trầm cảm tập 4
Chin là một chàng trai hoàn hảo: đẹp trai, hiền lành và thành công trong công việc. Anh đã gặp và yêu Mew, cô gái lương thiện, ấm áp nhưng lại gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống. Vì một biến cố mà Mew bị chủ nhà đuổi đi ngay trong đêm. Chin đã đưa …
Theo kết quả nghiên cứu : " Áp lực học tập và một số vấn đề sức khỏe tâm. thần ở sinh viên năm nhất Đại học Y Hà Nội năm 2011" của Nguyễn Triệu. Phong cho biết , trung bình có khoảng 8% sinh viên thường xuyên cảm thấy. bị trầm cảm ; 6,5% thường xuyên cảm thấy
Tổng biên tập: Nguyễn Thế Hào Giấy phép hoạt động Tạp chí điện tử số 535/GP-BTTTT ngày 21/08/2021 của Bộ Thông tin & Truyền thông. Địa chỉ: Số 4, Ngõ Hàng Chuối 1, Hàng Chuối, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Vay Tiền Online Banktop. Rối loạn lưỡng cực được phân loại thành Rối loạn lưỡng cực I Được xác định bởi sự hiện diện của ít nhất một giai đoạn hưng cảm đầy đủ gây ảnh hưởng các chức năng xã hội và chức năng nghề nghiệp bình thường và thường là những giai đoạn trầm cảm. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữ ngang loạn lưỡng cực II Được xác định bởi sự có mặt của các giai đoạn trầm cảm chủ yếu với ít nhất một giai đoạn hưng cảm nhẹ nhưng không có các giai đoạn hưng cảm đầy đủ. Tỷ lệ mắc bệnh có phần cao hơn đối với nữ loạn lưỡng cực không biệt định Các rối loạn với các đặc tính lưỡng cực rõ ràng không đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể cho các rối loạn lưỡng cực khác Nguyên nhân chính xác của rối loạn lưỡng cực là không rõ. Di truyền có vai trò quan trọng. Cũng có bằng chứng về sự rối loạn điều hòa các chất dẫn truyền thần kinhserotonin và norepinephrin và thể có những yếu tố tâm lý xã hội. Các sự kiện căng thẳng cuộc sống thường liên quan đến sự phát triển ban đầu của các triệu chứng và sau đó trầm trọng, mặc dù nguyên nhân và kết quả chưa được thiết lập. Một số loại thuốc có thể khởi phát bệnh trầm trọng ở một số bệnh nhân rối loạn lưỡng cực; những loại thuốc này bao gồm Triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn lưỡng cực Rối loạn lưỡng cực bắt đầu với một giai đoạn cấp tính các triệu chứng, theo sau là một chu kỳ lặp đi lặp lại của sự thuyên giảm và tái phát. Sự thuyên giảm thường hoàn toàn, nhưng nhiều bệnh nhân có các triệu chứng tồn dư, và một số thì khả năng làm việc ở nơi làm việc bị suy giảm trầm trọng. Các đợt tái phát là những giai đoạn riêng biệt của các triệu chứng cường độ cao hơn, đó là hưng cảm, trầm cảm, trầm cảm nhẹ, hoặc hỗn hợp các tính trạng trầm cảm và hưng cảm. Các đợt tập kéo dài từ vài tuần đến 3 đến 6 tháng; giai đoạn trầm cảm thường kéo dài hơn giai đoạn hưng cảm hoặc trầm chu kỳ – thời gian từ khi khởi phát của một giai đoạn đến thời điểm khởi phát giai đoạn tiếp theo - khác nhau giữa các bệnh nhân. Một số bệnh nhân có giai đoạn không thường xuyên, có lẽ chỉ một vài giai đoạn trong suốt cuộc đời, trong khi một số khác lại có các dạng chu kỳ nhanh thường được định nghĩa là ≥ 4 giai đoạn/năm. Chỉ có một ít bệnh nhân thay đổi luân phiên giữa hưng cảm và trầm cảm trong mỗi chu kỳ; trong hầu hết, một cực hay cực khác chiếm nổi trội. Hưng cảm Một giai đoạn hưng cảm được định nghĩa là ≥ 1 tuần có khí sắc tăng, mở rộng hoặc dễ bị kích thích liên tục và tăng liên tục hoạt động có mục đích hoặc tăng năng lượng đáng chú ý cộng với ≥ 3 triệu chứng Tăng tính tự trọng bản thân hoặc phóng đạiGiảm nhu cầu ngủNói chuyện nhiều hơn bình thườngTư duy phi tán hoặc tư duy dồn dậpTính dễ bị phân tán tập trungTăng các hoạt động có mục đíchTham gia quá nhiều vào các hoạt động có rủi ro cao ví dụ, mua sắm nhiều, đầu tư kinh doanh dại dộtCác bệnh nhân hưng cảm có thể là tham gia vào nhiều hoạt động vui vẻ, có nguy cơ cao một cách không mệt mỏi, quá mức, và xung động ví dụ, đánh bạc, thể thao nguy hiểm, hành động phô trương tình dục mà không cần phải hiểu rõ những nguy hại có thể xảy ra. Triệu chứng trầm trọng đến nỗi họ không thể hoạt động được các vai trò chính nghề nghiệp, trường học, trông nhà. Những đầu tư không khôn ngoan, chi tiêu và các lựa chọn cá nhân khác có thể có những hậu quả không thể khắc phục nhân trong một giai đoạn hưng cảm có thể ăn mặc màu mè rực rõ và thường nói với tốc độ nhanh, không thể dừng. Bệnh nhân có thể tạo ra các mối liên quan những ý nghĩ mới được khởi phát bởi bằng âm thanh thay vì ý nghĩa của từ. Dễ phân tâm, bệnh nhân có thể liên tục chuyển từ một chủ đề này sang chủ đề khác. Tuy nhiên, họ có xu hướng tin rằng họ đang ở trạng thái tinh thần tốt nhất của sự thấu hiểu và tăng khả năng hoạt động thường dẫn đến hành vi xâm phạm và có thể là một sự kết hợp nguy hiểm. Sự bất hòa giữa các cá nhân và có thể khiến bệnh nhân cảm thấy họ đang bị đối xử hoặc bị ngược đãi một cách bất công. Do đó, bệnh nhân có thể trở nên nguy hiểm cho bản thân hoặc cho người khác. Tăng hoạt động tâm thần được bệnh nhân cảm nhận tư duy dồn dập và được quan sát là tư duy phi tán qua đánh giá của bác sĩ. Hưng cảm loạn thần là một biểu hiện nặng hơn, với những triệu chứng loạn thần mà có thể khó phân biệt với tâm thần phân liệt Tâm thần phân liệt Tâm thần phân liệt được đặc trưng bởi loạn thần mất liên hệ với thực tại, ảo giác các tri giác sai, hoang tưởng các niềm tin sai lạc, tư duy và ngôn ngữ thiếu tổ chức, cảm xúc thờ ơ vô... đọc thêm . Bệnh nhân có những hoang tưởng phóng đại hoặc bị theo dõi ví dụ, về việc là Chúa Giêsu hoặc bị FBI theo dõi, thỉnh thoảng có ảo giác. Mức độ hoạt động tăng rõ rệt; bệnh nhân có thể phóng xe nhanh và la hét, chửi thề hay hát hò. Tăng tình trạng thiếu ổn định cảm xúc, thường tăng tính dễ bị kích thích. Mê sảng hưng cảm mê sảng có thể xuất hiện, với sự mất mát hoàn toàn của tư duy và hành vi. Hưng cảm nhẹ Một giai đoạn hưng cảm nhẹ là một biến thể ít nặng nề hơn của hưng cảm liên quan đến một giai đoạn riêng biệt kéo dài ≥ 4 ngày với hành vi khác biệt rõ rệt bản thân bệnh nhân lúc bình thường không trầm cảm và bao gồm ≥ 3 trong số các triệu chứng bổ sung được liệt kê ở trên dưới hưng giai đoạn hưng cảm nhẹ, khí sắc tươi sáng, nhu cầu ngủ giảm khi năng lượng tăng lên đáng kể, và tâm thần vận động tăng nhanh. Đối với một số bệnh nhân, giai đoạn hưng cảm nhẹ được thích nghi bởi vì chúng tạo ra nhiều năng lượng, tăng tính sáng tạo, sự tự tin, và chức năng xã hội siêu thường. Nhiều người không muốn rời khỏi trạng thái vui tươi, hưng phấn. Một số hoạt động khá tốt, và hoạt động không bị suy giảm đáng kể. Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân, hưng cảm nhẹ biểu hiện như sự phân tán, dễ bị cáu gắt, và khí sắc bất ổn định, mà bệnh nhân và những người khác thấy không thích thú tình trạng đó. Trầm cảm Khí sắc trầm hầu hết trong ngàyGiảm sự quan tâm hoặc thích thú trong tất cả hoặc gần như tất cả các hoạt động trong hầu hết thời gian trong ngàyTăng cân đáng kể >5% hoặc giảm cân hoặc tăng khẩu vịMất ngủ thường mất ngủ kiểu tỉnh giấc giữa đêm hoặc chứng ngủ nhiềuKích động hoặc chậm chạp tâm thần vận động được quan sát bởi người khác của người khác không phải tự nhận xétMệt mỏi hoặc mất năng lượngCảm giác vô dụng hoặc tội lỗi quá mức hoặc không thích hợpSuy giảm khả năng suy nghĩ hoặc tập trung hoặc do dự thiếu quyết đínhNhững suy nghĩ liên tục về cái chết hoặc tự sát, một nỗ lực tự sát, hay một kế hoạch tự sát cụ thểCác đặc điểm loạn thần thường phổ biến ở trầm cảm lưỡng cực hơn trầm cảm đơn cực. Các đặc điểm hỗn hợp Một giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ được xác định là có đặc điểm hỗn hợp nếu ≥ 3 triệu chứng trầm cảm có mặt trong hầu hết các ngày của giai đoạn. Tình trạng này thường rất khó chẩn đoán và có thể chuyển sang trạng thái chu kỳ liên tục; sau đó tiên lượng xấu hơn so với ở trạng thái hưng cảm hay hưng cảm cơ tự sát trong các giai đoạn hỗn hợp đặc biệt cao. Tiêu chuẩn lâm sàng Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về rối loạn tâm thần, Ấn bản lần thứ NămThyroxin T4 và mức TSH để loại trừ cường giápLoại trừ lạm dụng thuốc kích thích trên lâm sàng hoặc xét nghiệm máu hoặc nước tiểuChẩn đoán rối loạn lưỡng cực được dựa trên việc xác định các triệu chứng của chứng hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ như được mô tả ở trên, cộng với một tiền sử của sự thuyên giảm và tái phát. Chẩn đoán rối loạn lưỡng cực I cần phải có các triệu chứng đủ nghiêm trọng để làm giảm đáng kể chức năng xã hội hoặc nghề nghiệp hoặc phải nhập viện để ngăn ngừa nguy hại cho bản thân hoặc người số bệnh nhân có triệu chứng trầm cảm có thể đã có trải nghiệm trước đây hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm nhưng không phản hồi về điều đó, trừ khi họ được đặt câu hỏi cụ thể. Đặt câu hỏi có kĩ năng có thể cho thấy các dấu hiệu hiện diện bệnh ví dụ như chi tiêu quá mức, xung động phô trương tình dục, lạm dụng chất kích thích, mặc dù các thông tin đó có nhiều khả năng được cung cấp bởi người thân. Bảng kê có cấu trúc như Bảng câu hỏi về Rối loạn tâm trạng có thể có ích. Tất cả bệnh nhân phải được hỏi nhẹ nhàng nhưng trực tiếp về ý tưởng tự sát, kế hoạch, hoặc hành vi. Bệnh nhân rối loạn lưỡng cực cũng có thể bị rối loạn lo âu ví dụ, ám ảnh sợ xã hội Ám ảnh sợ xã hội Ám ảnh sợ xã hội là lo sợ và lo âu về việc bị tiếp xúc với các tình huống xã hội hoặc trình diễn nào đó. Những tình huống này bị né tránh hoặc chịu đựng với lo âu đáng kể. Ám ảnh sợ là một loại... đọc thêm , các cơn hoảng sợ Cơn hoảng sợ và rối loạn hoảng sợ Một cơn hoảng sợ là sự khởi phát đột ngột của một giai đoạn ngắn, rời rạc với các khó chịu căng thẳng, lo âu, hoặc sợ hãi kèm theo các triệu chứng cơ thể và/hoặc triệu chứng nhận thức. Rối loạn... đọc thêm , rối loạn ám ảnh nghi thức Rối loạn ám ảnh nghi thức OCD Rối loạn ám ảnh nghi thức OCD được đặc trưng bởi những suy nghĩ tái diễn, kéo dài, không mong muốn, sự thúc giục, hoặc những hình ảnh bị ám ảnh và/hoặc những hành vi lặp đi lặp lại hoặc những... đọc thêm , có thể gây nhầm lẫn cho chẩn đoán. Các thuốc chỉnh khí sắc ví dụ lithium, một số thuốc chống co giật, thuốc chống loạn thần thế hệ 2, hoặc cả haiHỗ trợ và trị liệu tâm lý Điều trị rối loạn lưỡng cực thường có 3 pha Cấp tính Để ổn định và kiểm soát biểu hiện ban đầu, đôi khi là những tình trạng nghiêm trọngTiếp tục Để đạt được sự thuyên giảm hoàn toànDuy trì hoặc dự phòng Giữ bệnh nhân trong trạng thái thuyên giảmMặc dù hầu hết các bệnh nhân hưng cảm nhẹ có thể được điều trị như bệnh nhân ngoại trú, nhưng tình trạng hưng cảm nghiêm trọng hoặc trầm cảm thường đòi hỏi quản lý nội trú. Thuốc chỉnh khí sắc Lithium và thuốc chống động kinh, đặc biệt là valproat, carbamazepin, và lamotriginCác loại thuốc này được sử dụng đơn lẻ hoặc kết hợp với tất cả các pha điều trị, mặc dù ở liều lượng khác nhau. Kích thích từ trường xuyên sọ, đôi khi được sử dụng để điều trị trầm cảm nặng, kháng thuốc, cũng đã chứng minh được hiệu quả trong chứng trầm cảm lưỡng cực. Tận dụng sự ủng hộ của người thân là điều thiết yếu để dự phòng ngăn ngừa những giai đoạn chủ liệu nhóm thường được khuyên dùng cho bệnh nhân và bạn đời bạn tình; ở đó, họ tìm hiểu về rối loạn lưỡng cực, di chứng xã hội của nó, và vai trò trung tâm của thuốc chỉnh khí sắc trong điều liệu cá nhân có thể giúp bệnh nhân đối phó tốt hơn với các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày và điều chỉnh theo cách mới để tự xác định bản bệnh nhân, đặc biệt là những người có rối loạn lưỡng cực II, có thể không tuân thủ các phác đồ điều trị bằng thuốc chỉnh khí sắc bởi vì họ tin rằng những thuốc này làm cho họ ít cảnh giác và sáng tạo. Bác sĩ có thể giải thích rằng sự giảm sáng tạo thì không bình thường một cách tương đối nhưng thuốc chỉnh khí sắc thường sẽ đem lại nhiều cơ hội thực hiện hoạt động giữa các cá nhân, học thuật, chuyên môn và nghệ nhân nên được tư vấn để tránh các loại thuốc kích thích và rượu, để giảm thiểu tình trạng thiếu ngủ và nhận diện các dấu hiệu tái phát bệnh nhân có khuynh hướng tiêu xài tài chính quá mức, tài chính nên được chuyển sang một thành viên đáng tin cậy trong gia đình. Bệnh nhân có khuynh hướng lạm dụng tình dục thì nên được cung cấp thông tin về các hậu quả về hôn nhân ví dụ ly dị và nguy cơ nhiễm bệnh lây truyền, đặc biệt là nhóm hỗ trợ ví dụ, Liên minh Hỗ trợ Bệnh nhân bị Bệnh lưỡng cực và Trầm cảm [DBSA] có thể giúp bệnh nhân bằng cách cung cấp một diễn đàn để chia sẻ những kinh nghiệm và cảm xúc chung của họ. Rối loạn lưỡng cực là một tình trạng chu kỳ liên quan đến các giai đoạn của chứng hưng cảm có hoặc không có trầm cảm lưỡng cực 1 hoặc hưng cảm nhẹ cộng với trầm cảm lưỡng cực 2.Rối loạn lưỡng cực làm giảm một cách rõ rệt chức năng trong công việc và tương tác với xã hội, và nguy cơ tự tử là rất lớn; tuy nhiên, các trạng thái hưng cảm mức độ nhẹ hưng cảm nhẹ đôi khi thích nghi bởi vì chúng có thể tạo ra năng lượng cao, tính sáng tạo, sự tự tin, và chức năng xã hội siêu dài và tần suất của chu kỳ thay đổi giữa các bệnh nhân; một số bệnh nhân chỉ có một vài giai đoạn trong suốt cuộc đời, trong khi một số khác lại có ≥ 4 giai đoạn/năm các hình thức chu kỳ nhanh.Chỉ có một vài bệnh nhân thay đổi luân phiên giữa hưng cảm và trầm cảm trong mỗi chu kỳ; trong hầu hết các chu kỳ, một cực thường chiếm ưu thế hơn cực đoán dựa trên tiêu chuẩn lâm sàng, nhưng lạm dụng thuốc kích thích và các rối loạn cơ thể như cường giáp hoặc u tuyến thượng thận phải được loại trừ bằng cách kiểm tra và làm xét trị phụ thuộc vào biểu hiện và mức độ nghiêm trọng của chúng nhưng thường được sử dụng thuốc chỉnh khí sắc ví dụ, lithium, valproat, carbamazepin, lamotrigin và/hoặc thuốc chống loạn thần thế hệ thứ 2 ví dụ, aripiprazol, lurasidon, olanzapin, quetiapin, risperidon, ziprasidon.
Các rối loạn trầm cảm được đặc trưng bởi buồn trầm trọng hoặc dai dẳng đủ để ảnh hưởng vào hoạt động chức năng và thường là do giảm sự quan tâm hoặc thích thú trong các hoạt động. Nguyên nhân chính xác không rõ nhưng có thể liên quan đến việc di truyền, thay đổi nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh, chức năng của hóc môn thần kinh bị thay đổi và các yếu tố tâm lý xã hội. Chẩn đoán dựa trên tiền sử. Điều trị thường bao gồm thuốc, trị liệu tâm lý, hoặc cả hai và đôi khi trị liệu sốc điện. Thuật ngữ trầm cảm thường được dùng để chỉ bất kỳ rối loạn trầm cảm nào. Một số được phân loại trong Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về rối loạn tâm thần, Ấn bản thứ năm DSM-5 theo các triệu chứng cụ thểCác loại khác được phân loại theo bệnh nguyên Rối loạn trầm cảm do một tình trạng bệnh lý khácRối loạn trầm cảm do chất gây nghiện/thuốc Thuật ngữ trầm cảm thường được sử dụng để miêu tả giảm khí sắc hoặc nản lòng do những thất vọng ví dụ tai họa tài chính, thiên tai, bệnh nặng hoặc những mất mát ví dụ như cái chết của người thân. Tuy nhiên, các thuật ngữ chuẩn hơn cho những loại khí sắc như vậy là mất tinh thần và sự thương cảm giác tiêu cực về sự mất tinh thần và đau buồn, không giống như những người trầm cảm, làm như sau Xảy ra trong sóng có xu hướng gắn liền với suy nghĩ hoặc nhắc nhở về sự kiệnGiải quyết khi hoàn cảnh hoặc sự kiện được cải thiệnCó thể xen kẽ với những giai đoạn cảm xúc tích cựcKhông đi kèm với cảm giác vô dụng và tự ghê tởmGiảm khí sắc thường kéo dài nhiều ngày hơn là hàng tuần hoặc hàng tháng, và suy nghĩ tự sát và mất chức năng kéo dài thì ít xảy ra hơn. Nguyên nhân chính xác gây các rối loạn trầm cảm là không rõ ràng, nhưng có sự đóng góp bởi yếu tố di truyền và môi di truyền chiếm khoảng một nửa bệnh nguyên ít hơn trong trầm cảm khởi phát muộn. Do đó, trầm cảm phổ biến hơn trong số các thân nhân bậc 1 của bệnh nhân trầm cảm, và phù hợp với các cặp song sinh cùng trứng. Cùng với đó, các yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của phản ứng trầm cảm đối với các sự kiện bất yếu tố tâm lý xã hội dường như cũng có liên quan. Những căng thẳng lớn trong cuộc sống, đặc biệt là sự chia rẽ và mất chủ yếu, thường đi trước những giai đoạn trầm cảm lớn; tuy nhiên, các sự kiện như vậy thường không gây trầm cảm kéo dài, trầm trọng trừ những người có xu hướng rối loạn khí người có một giai đoạn trầm cảm lớn có nguy cơ cao hơn của các giai đoạn tiếp theo. Những người ít hồi phục và/hoặc những người có khuynh hướng lo âu có thể sẽ có nguy cơ phát triển chứng rối loạn trầm cảm. Những người như vậy thường không phát triển các kỹ năng xã hội để thích nghi với áp lực cuộc sống. Sự hiện diện của các rối loạn tâm thần khác làm tăng nguy cơ mắc chứng rối loạn trầm cảm nữ có nguy cơ cao hơn, nhưng không có lý thuyết giải thích tại sao. Các yếu tố có thể bao gồm Phơi nhiễm nhiều hơn hoặc đáp ứng mạnh với căng thẳng hàng ngàyNồng độ monoamine oxidase cao hơn enzym có vai trò làm giảm các chất dẫn truyền thần kinh được coi là quan trọng đối với khí sắcTỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp cao hơnSự thay đổi nội tiết xảy ra với kinh nguyệt và mãn kinhTrong rối loạn cảm xúc theo mùa, các triệu chứng phát triển theo mùa, điển hình là vào mùa thu hoặc mùa đông; rối loạn có xu hướng xảy ra trong khí hậu với mùa đông dài hoặc khắc nghiệt. Triệu chứng hoặc rối loạn trầm cảm có thể đi kèm với các rối loạn cơ thể khác, bao gồm rối loạn về tuyến giáp Tổng quan về chức năng tuyến giáp Tuyến giáp, nằm ở vùng cổ trước, ngay dưới sụn nhẫn, gồm 2 thùy được nối bởi một eo tuyến giáp. Các tế bào nang trong tuyến sinh ra 2 hormone tuyến giáp chính Tetraiodothyronine thyroxine... đọc thêm , rối loạn về tuyến thượng thận Tổng quan về chức năng tuyến thượng thận Tuyến thượng thận nằm ở cực trên của mỗi thận xem hình Tuyến thượng thận, bao gồm Phần vỏ Phần tủy Vỏ thượng thận và tủy thượng thận có chức năng nội tiết riêng biệt. Vỏ thượng thận sản xuất đọc thêm , u não Tổng quan về các khối u trong sọ Các khối u nội sọ có thể tại não hoặc các cấu trúc khác ví dụ, dây thần kinh sọ, màng não. Các khối u thường phát triển ở tuổi thanh niên hoặc trung niên nhưng có thể phát triển ở mọi lứa... đọc thêm lành tính hay ác tính, đột quỵ Tổng quan về Đột quỵ Đột quỵ là một nhóm bệnh không đồng nhất liên quan đến sự gián đoạn đột ngột và cục bộ của dòng máu não gây ra tổn thương thần kinh. Đột quỵ có thể là Thiếu máu cục bộ 80%, điển hình là do... đọc thêm , AIDS Nhiễm trùng HIV/AIDS ở người Nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người HIV là hậu quả của nhiễm 1 trong số 2 retrovirus tương tự nhau HIV-1 và HIV-2 chúng phá hủy tế bào lympho CD4+ và làm giảm khả năng miễn dịch... đọc thêm , bệnh Parkinson Bệnh Parkinson Bệnh Parkinson là một rối loạn thoái hóa chậm tiến triển, được đặc trưng bởi run tĩnh trạng, tăng trương lực cơ, giảm vận động và vận động chậm, và sau cùng ổn định tư thế và/hoặc dáng đi. Chẩn... đọc thêm , và xơ cứng rải rác Xơ cứng rải rác MS Xơ cứng rải rác MS được đặc trưng bởi mất các mảng myelin ở não và tủy sống. Các triệu chứng thường gặp gồm những bất thường về vận nhãn, dị cảm, yếu cơ, co cứng, rối loạn tiểu tiện và rối... đọc thêm xem bảng Một số nguyên nhân gây ra các triệu chứng trầm cảm và hưng cảm Một số nguyên nhân của triệu chứng trầm cảm và hưng cảm . 1. Ghasemi M, Phillips C, Fahimi A, et al Mechanisms of action and clinical efficacy of NMDA receptor modulators in mood disorders. Neurosci Biobehav Rev 80555-572, 2017. doi Các triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn trầm cảm Trầm cảm gây ra các rối loạn nhận thức, tâm thần vận động và các dạng rối loạn chức năng khác ví dụ như tập trung kém, mệt mỏi, mất ham muốn tình dục, mất hứng thú hoặc thích thú trong hầu hết các hoạt động trước đây, rối loạn giấc ngủ cũng như tâm trạng chán nản. Những người bị rối loạn trầm cảm thường có ý nghĩ tự tử Hành vi tự sát Tự sát là cái chết do một hành động cố ý tự làm hại bản thân được thiết kế để gây chết người. Hành vi tự sát bao gồm một loạt các hành vi từ cố gắng tự sát và các hành vi chuẩn bị cho đến tự... đọc thêm và có thể tìm cách tự sát. Các triệu chứng hoặc rối loạn tâm thần khác ví dụ, các cơn lo âu Tổng quan các rối loạn lo âu Mỗi người thường trải qua nỗi sợ hãi và lo âu. Sợ hãi là phản ứng cảm xúc, thể chất và hành vi đối với một mối đe dọa có thể nhận biết được diễn ra tức thì từ bên ngoài ví dụ như kẻ đột nhập... đọc thêm và hoảng sợ Cơn hoảng sợ và rối loạn hoảng sợ Một cơn hoảng sợ là sự khởi phát đột ngột của một giai đoạn ngắn, rời rạc với các khó chịu căng thẳng, lo âu, hoặc sợ hãi kèm theo các triệu chứng cơ thể và/hoặc triệu chứng nhận thức. Rối loạn... đọc thêm thường cùng tồn tại, đôi khi làm phức tạp thêm việc chẩn đoán và điều trị. Trầm cảm điển hình rối loạn đơn cực Bệnh nhân có thể xuất hiện đau khổ, mắt rền rĩ, lông mày lằn rãnh, góc dưới của miệng hạ xuống, tư thế sụp, giao tiếp bằng mắt kém, thiếu biểu hiện trên khuôn mặt, cử động cơ thể ít và thay đổi giọng nói ví dụ, giọng mềm, thiếu thân tình, sử dụng của từ đơn âm. Vẻ ngoài có thể bị nhầm lẫn với bệnh Parkinson Bệnh Parkinson Bệnh Parkinson là một rối loạn thoái hóa chậm tiến triển, được đặc trưng bởi run tĩnh trạng, tăng trương lực cơ, giảm vận động và vận động chậm, và sau cùng ổn định tư thế và/hoặc dáng đi. Chẩn... đọc thêm . Ở một số bệnh nhân, khí sắc trầm đến mức nước mắt khô; họ báo cáo rằng họ không thể trải nghiệm cảm xúc thông thường và cảm thấy rằng thế giới đã trở nên thiếu màu sắc và không có sự sống. Dinh dưỡng có thể bị suy giảm nghiêm trọng, cần can thiệp ngay lập số bệnh nhân trầm cảm không chú ý đến vệ sinh cá nhân hoặc thậm chí con cái họ, những người thân yêu khác, hoặc vật với chẩn đoán trầm cảm nặng, ≥ 5 triệu chứng sau phải xuất hiện gần như mỗi ngày trong cùng thời kỳ 2 tuần, và một trong số đó phải là khí sắc trầm hoặc mất các quan tâm thích thú Khí sắc trầm hầu hết trong ngàyGiảm sự quan tâm hoặc thích thú trong tất cả hoặc gần như tất cả các hoạt động trong hầu hết thời gian trong ngàyTăng cân đáng kể > 5% hoặc giảm cân hoặc tăng khẩu vịMất ngủ thường mất ngủ kiểu tỉnh giấc giữa đêm hoặc chứng ngủ nhiềuKích động hoặc chậm chạp tâm thần vận động được quan sát bởi người khác của người khác không phải tự nhận xétMệt mỏi hoặc mất năng lượngCảm giác vô dụng hoặc tội lỗi quá mức hoặc không thích hợpSuy giảm khả năng suy nghĩ hoặc tập trung hoặc do dự thiếu quyết đínhNhững suy nghĩ lặp lại về cái chết hoặc tự sát, toan tự sát, hoặc một kế hoạch cụ thể để tự sát Rối loạn trầm cảm dai dẳng Triệu chứng trầm cảm kéo dài ≥ 2 năm mà không thuyên giảm được phân loại là rối loạn trầm cảm dai dẳng PDD, một thể loại hợp nhất các chứng rối loạn trước đây gọi là rối loạn trầm cảm điển hình mạn tính và loạn khí sắc. Triệu chứng thường bắt đầu một cách âm thần trong thời thanh niên và có thể tồn tại trong nhiều năm hoặc nhiều thập niên. Số lượng các triệu chứng thường dao động ở trên và dưới ngưỡng trầm cảm điển hình. Những bệnh nhân bị ảnh hưởng có thể thường ảm đạm, bi quan, mất hài hước, thụ động, thờ ơ, sống nội tâm, tự phán xét bản thân hoặc người khác quá mức, và phàn nàn. Bệnh nhân PDD cũng có nhiều khả năng bị rối loạn lo âu bên dưới Tổng quan các rối loạn lo âu Mỗi người thường trải qua nỗi sợ hãi và lo âu. Sợ hãi là phản ứng cảm xúc, thể chất và hành vi đối với một mối đe dọa có thể nhận biết được diễn ra tức thì từ bên ngoài ví dụ như kẻ đột nhập... đọc thêm , sử dụng chất gây nghiện Rối loạn sử dụng chất Rối loạn sử dụng chất có liên quan đến mô hình hành vi bệnh lý, trong đó bệnh nhân tiếp tục sử dụng chất bất chấp những vấn đề đáng kể liên quan đến việc sử dụng chất đó. Chẩn đoán rối loạn... đọc thêm hoặc rối loạn nhân cách Tổng quan về các Rối loạn nhân cách Những rối loạn nhân cách nói chung là các hình thái lan tỏa và kéo dài về suy nghĩ, nhận thức, phản ứng, và liên quan đến việc gây ra tình trạng đau khổ đáng kể hoặc suy giảm chức năng. Các... đọc thêm ví dụ, rối loạn nhân cách ranh giới.Để chẩn đoán rối loạn trầm cảm dai dẳng , bệnh nhân phải có khí sắc trầm trong hầu hết các ngày trong thời gian ≥ 2 năm cộng với ≥ 2 trong số những triệu chứng sau Chán ăn hoặc ăn quá nhiềuMất ngủ hoặc ngủ quá nhiềuGiảm năng lượng hoặc mệt mỏiLòng tự trọng thấpKém tập trung hoặc khó khăn trong việc đưa ra các quyết địnhCảm giác tuyệt vọng Rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt Rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt liên quan tới các triệu chứng khí sắc và lo âu mà có liên quan rõ ràng đến chu kỳ kinh nguyệt, khởi phát trong giai đoạn tiền kinh nguyệt và khoảng thời gian không triệu chứng sau khi có kinh nguyệt. Triệu chứng phải xuất hiện trong hầu hết các chu kỳ kinh nguyệt trong năm với chẩn đoán rối loạn tiền kinh nguyệt, bệnh nhân phải có ≥ 5 triệu chứng trong tuần trước khi có kinh nguyệt. Triệu chứng phải bắt đầu thuyên giảm trong vòng vài ngày sau khi bắt đầu kinh nguyệt và đến mức tối thiểu hoặc biến mất hoàn toàn trong tuần ngay sau khi có kinh nguyệt. Các triệu chứng phải bao gồm ≥ 1 trong những điều sau Thay đổi khí sắc đáng kể ví dụ, đột nhiên cảm thấy buồn hoặc khócSự cáu kỉnh hoặc tức giận rõ rệt hoặc gia tăng mâu thuẫn giữa các cá nhânKhí sắc giảm đáng kể, cảm giác tuyệt vọng, hoặc những suy nghĩ tự hối lỗiGhi nhận sự lo lắng, căng thẳng, hoặc một cảm giác chơi vơiNgoài ra, phải có ≥ 1 điểm sau Giảm sự quan tâm trong các hoạt động thông thườngKhó tập trungGiảm năng lượng hoặc mệt mỏiSự thay đổi đáng kể trong cảm giác ngon miệng, ăn quá nhiều hoặc xung động thèm thức ăn cụ thểNgủ nhiều hoặc mất ngủCảm thấy quá tải hoặc không kiểm soátCác triệu chứng cơ thể như tức ngực hoặc sưng, đau khớp hoặc cơ, cảm giác bị phát phì và tăng cân Rối loạn đau buồn kéo dài Đau buồn kéo dài là nỗi buồn dai dẳng sau khi mất người thân. Nó khác với trầm cảm ở chỗ nỗi buồn liên quan đến mất mát cụ thể hơn là cảm giác thất bại chung chung liên quan đến trầm cảm. Trái ngược với đau buồn thông thường, tình trạng này có thể gây tàn tật rất cao và cần có liệu pháp được thiết kế đặc biệt cho chứng rối loạn đau buồn kéo buồn kéo dài được coi là xuất hiện khi phản ứng đau buồn điển hình là sự khao khát hoặc khao khát dai dẳng và/hoặc mối bận tâm về người đã khuất kéo dài một năm hoặc lâu hơn và dai dẳng, lan tỏa và vượt quá các chuẩn mực văn hóa. Nó cũng phải đi kèm với ≥ 3 điều sau đây trong tháng trước ở mức độ gây ra tình trạng đau khổ hoặc tàn tật Không tinCảm xúc đau đớnCảm giác nhầm lẫn danh tínhTránh nhắc nhở về sự mất mátCảm giác tê táiCô đơn dữ dộiCảm giác vô nghĩaKhó tham gia vào cuộc sống đang diễn ra Rối loạn trầm cảm khác Các nhóm triệu chứng có đặc điểm của một rối loạn trầm cảm mà không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn cho các rối loạn trầm cảm khác nhưng gây ra tình trạng khó chịu và suy giảm chức năng đáng kể trên lâm sàng được phân loại như rối loạn trầm cảm khác biệt định hoặc không biệt định.Bao gồm những giai đoạn tái diễn với ≥ 4 triệu chứng trầm cảm kéo dài 1 giai đoạn, có khả năng tái diễn; do đó, các trường hợp nặng thường đòi hỏi liệu pháp điều trị duy trì lâu hết những người bị trầm cảm được điều trị như bệnh nhân ngoại trú. Bệnh nhân có ý tưởng tự tử đáng kể, đặc biệt là khi thiếu hỗ trợ gia đình, cần phải nhập viện, cũng như những người có các triệu chứng tâm thần hoặc khiếm khuyết thể một rối loạn cơ thể hoặc là thuốc có độc tính có thể là nguyên nhân, trước tiên cần phải điều trị trực tiếp các rối loạn bên dưới. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ chẩn đoán hoặc nếu triệu chứng không rõ ràng hoặc bao gồm ý tưởng tự sát hoặc cảm giác vô vọng, một thử nghiệm điều trị với một thuốc chống trầm cảm hoặc một thuốc chỉnh khí sắc có thể có loạn đau buồn kéo dài có thể được hưởng lợi từ liệu pháp tâm lý dành riêng cho chứng rối loạn này. Cho đến khi bắt đầu cải tiến rõ ràng, bác sĩ có thể cần phải xem bệnh nhân hàng tuần hoặc hai tuần một lần để hỗ trợ và giáo dục và theo dõi sự tiến triển. Việc gọi điện có thể hữu ích cho việc tái hẹn nhân và người thân có thể lo lắng hoặc ngại ngần về việc có rối loạn tâm thần. Bác sĩ có thể giúp giải thích rằng trầm cảm là một rối loạn y học nghiêm trọng gây ra bởi rối loạn sinh học và cần điều trị đặc hiệu và tiên lượng điều trị là tốt. Bệnh nhân và người thân cần được trấn an rằng trầm cảm không phải phán ánh một tính cách xấu xa ví dụ như lười biếng, yếu đuối. Nói với bệnh nhân rằng con đường phục hồi thường dao động, điều này giúp họ nhận ra vô vọng chỉ là quan điểm cá nhân và có thể giúp họ cải thiện sự tuân thủ điều khích bệnh nhân tăng dần các hoạt động đơn giản ví dụ như đi bộ, tập thể dục thường xuyên và tương tác xã hội phải được cân bằng với sự thừa nhận mong muốn tránh các hoạt động. Bác sĩ có thể đề nghị bệnh nhân tránh tự đổ lỗi và giải thích rằng những tư tưởng đen tối là một phần của rối loạn và sẽ biến mất. Nhiều thử nghiệm đối chứng cho thấy rằng liệu pháp tâm lý, đặc biệt là liệu pháp hành vi nhận thức và liệu pháp tương tác cá nhân, có hiệu quả ở những bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu, cả về điều trị các triệu chứng cấp tính và để giảm khả năng tái phát. Bệnh nhân trầm cảm nhẹ có xu hướng có kết quả tốt hơn những bệnh nhân trầm cảm nặng hơn, nhưng phổ cải thiện sẽ cao hơn ở những người bị trầm cảm nặng hơn. Một số loại thuốc và thuốc có thể được sử dụng để điều trị trầm cảm ECT liên quan đến gây cơn co giật bằng điện trong điều kiện được kiểm soát. Cơ chế hoạt động của nó là không chắc chắn nhưng việc tạo ra hoạt động co giật dường như không thể thiếu với tác dụng chống trầm cảm của nó. ECT hiện đại, được cung cấp khi có thuốc an thần nặng/gây mê toàn thân, thường được dung nạp tốt nhưng tình trạng lú lẫn và suy giảm trí nhớ có thể xảy ra trầm trọng. Phần lớn điều này được cải thiện và khỏi sau 6 tháng sau một đợt điều trị ECT, nhưng tình trạng quên ngược chiều có thể tồn tại trong thời gian dài. Điều này đặc biệt đúng đối với những kỷ niệm từ vài tháng trước khi ECT. Những bệnh nhân bị suy giảm nhận thức ở lần khám ban đầu, những người được điều trị động kinh hai bên, những bệnh nhân cao tuổi và những bệnh nhân dùng lithium có nguy cơ cao bị suy giảm trí nhớ và lú lẫn. Những điều sau đây thường được điều trị bằng ECT nếu thuốc không có hiệu quả Trầm cảm nặng có tự sátTrầm cảm với sự kích động hoặc chậm phát triển tâm thầnTrầm cảm có hoang tưởngTrầm cảm trong thai kỳBệnh nhân chống đối ăn có thể cần ECT để ngăn ngừa tử vong. ECT đặc biệt có hiệu quả đối với trầm cảm loạn ứng từ 6 đến 10 lần điều trị ECT thường tốt và có thể cải thiện cho bệnh nhân. Tái phát sau khi ECT là phổ biến, và liệu pháp dùng thuốc thường được duy trì sau khi ngừng ECT. Liệu pháp ánh sáng được biết đến nhiều nhất cho trầm cảm theo mùa nhưng dường như có hiệu quả tương đương với chứng trầm cảm không theo thể cung cấp dịch vụ điều trị tại nhà với một thiết bị ánh sáng đặc biệt cung cấp 2500 đến lux ở khoảng cách 30 đến 60 cm mà bệnh nhân có thể nhìn trong 30 đến 60 phút/ngày lâu hơn với nguồn ánh sáng ít cường độ hơn.Ở những bệnh nhân đi ngủ muộn vào ban đêm và dậy muộn vào buổi sáng, liệu pháp ánh sáng có hiệu quả nhất vào buổi sáng, đôi khi được bổ sung với 5 đến 10 phút phơi sáng trong khoảng thời gian từ 3 giờ chiều đến 7 giờ tối. Đối với bệnh nhân ngủ và dậy sớm, trị liệu ánh sáng có hiệu quả nhất trong khoảng thời gian từ 3 giờ chiều đến 7 giờ tối. Kích thích thần kinh phế vị liên quan đến việc kích thích dây thần kinh phế vị từng nhịp thông qua một máy phát xung được cấy ghép. Nó có thể hữu ích cho trầm cảm kháng trị so với các phương pháp điều trị khác nhưng thường mất từ 3 đến 6 tháng để có hiệu sử dụng kích thích từ xuyên sọ lặp đi lặp lại rTMS để điều trị cấp tính chứng rối loạn trầm cảm nặng đã có sự hỗ trợ đáng kể từ các thử nghiệm có đối chứng. rTMS tần số thấp có thể được áp dụng cho vỏ não trước trán bên phải DLPC và rTMS tần số cao có thể được áp dụng cho DLPC bên trái. Tác dụng phụ thường gặp nhất là nhức đầu và khó chịu ở da đầu; cả hai xảy ra thường xuyên hơn khi sử dụng tần số cao hơn tần số rTMS tần số nhóm hỗ trợ ví dụ, Liên minh Hỗ trợ Bệnh nhân bị Bệnh lưỡng cực và Trầm cảm [DBSA] có thể giúp bệnh nhân bằng cách cung cấp một diễn đàn để chia sẻ những kinh nghiệm và cảm xúc chung của họ. 1. McIntyre RS, Lee y, Zhou AJ, et al The efficacy of psychostimulants in major depressive episodes A systematic review and meta-analysis. J Clin Pscyhopharmacol 37 4412-418, 2017. doi 2. Bergfeld IO, Mantione M, Hoogendoorn MLC, et al Deep brain stimulation of the ventral anterior limb of the internal capsule for treatment-resistant depression A randomized clinical trial. JAMA Psychiatry 73 5456-64, 2016. doi Trầm cảm là một rối loạn thường gặp liên quan đến khí sắc trầm và/hoặc gần như hoàn toàn mất quan tâm hoặc thích thú trong các hoạt động mà trước đây được thích; các biểu hiện cơ thể ví dụ, thay đổi cân nặng, rối loạn giấc ngủ và các biểu hiện nhận thức ví dụ, khó tập trung là phổ biến. Trầm cảm có thể làm giảm đáng kể khả năng làm việc tại nơi làm việc và tương tác xã hội; nguy cơ tự sát là đáng khi các triệu chứng trầm cảm là do các rối loạn về thể chất ví dụ, rối loạn tuyến giáp hoặc tuyến thượng thận, u não lành tính hoặc ác tính, đột quỵ, AIDS, bệnh Parkinson, xơ cứng rải rác hoặc dụng một số thuốc nhất định ví dụ, corticosteroid, một số thuốc chẹn beta, interferon, một số loại chất giải trí.Chẩn đoán dựa trên tiêu chuẩn lâm sàng; rối loạn thể chất phải được loại trừ bằng cách đánh giá lâm sàng và xét nghiệm chọn lọc ví dụ, CBC, chất điện giải, TSH, B12 và folat.Điều trị liên quan đến liệu pháp tâm lý và thường là thuốc; các thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin SSRI thường được thử đầu tiên, và nếu chúng không hiệu quả, có thể thử dùng các thuốc tác động đến serotoninnorepinephrin và/hoặc dopamine khác.
Trầm cảm là bệnh gì? Trầm cảm là một bệnh thuộc tâm thần học đặc trưng bởi sự rối loạn khí sắc. Bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn gây nên do một yếu tố tâm lý nào nào tạo thành những biến đổi bất thường trong suy nghĩ hành vi tác phong. Phụ nữ thường gặp bệnh trầm cảm nhiều hơn nam giới 2 nữ/ 1 nam xảy ra ở nhiều lứa tuổi đặc biệt trong độ tuổi trưởng thành. Tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm ngày một gia tăng, theo tổ chức Y tế Thế giới ước tính mỗi năm có khoảng 850000 chết do hành vi tự sát do bệnh trầm cảm, là một bệnh phổ biến ở trên toàn cầu. Tuy nhiên trong số đó những người được chẩn đoán và điều trị kịp thời còn rất thấp chiếm khoảng 25% Trầm cảm là nguyên nhân của hơn 50% trường hợp tự sát, trầm cảm do nguyên nhân khác nhau nhưng gặp tỉ lệ cao ở các đối tượng thất nghiệp, phá sản, ly hôn,... Trầm cảm là bệnh không còn xa lạ có thể chữa trị được khỏi hoàn toàn vì vậy cần được khám và điều trị kịp thời. Trầm cảm do các nguyên nhân sau gây nên Nội sinh trầm cảm chưa rõ nguyên nhân có nhiều giả thuyết cho rằng do di truyền, yếu tố tự miễn, môi trường sống , xã hội nhưng chưa thực sự rõ ràng Trầm cảm do căng thẳng do áp lực từ nhiều phía như công việc, gia đình, con cái, phá sản hay do những điều đột ngột xảy đến như mất đi người thân, mất tiền của,... Trầm cảm có thể xuất hiện các bệnh lý hay chấn thương tác động trực tiếp đến não bộ Trầm cảm có thể không rõ nguyên nhân Bệnh trầm cảm biểu hiện bằng các triệu chứng sau đây Khí sắc trầm buồn khí sắc trầm buồn được biểu hiện qua nét mặt của bệnh nhân buồn bã, rầu rĩ, ủ rũ nét mắt rất đơn điệu, giảm hoặc mất các nếp nhăn. Tình trạng khí sắc giảm rất bền vững do bệnh nhân buồn bã, chán nản, bi quan, mất hết niềm tin trong cuộc sống. Mất hứng thú hoặc các sở thích trước đây cảm giác nặng nề, mệt mỏi không muốn làm việc, đi đứng chậm chạp, luôn luôn cảm thấy mình không có đủ sức khỏe để làm việc dù là việc nhẹ, không quan tâm đến xung quanh kể cả con cái đang vui chơi cũng không để ý quan tâm. Bệnh nhân tự cho rằng họ đã mất hết các sở thích vốn có trước đây kể cả ham muốn tình dục. Nam nữ có biểu hiện suy giảm tình dục như lãnh cảm ở nữ hoặc rối loạn cương dương ở nam giới Rối loạn giấc ngủ mất ngủ là triệu chứng hay gặp nhất chiếm 95% số trường hợp bệnh nhân trầm cảm. Bệnh nhân cảm thấy trằn trọc khó đi vào giấc ngủ mặc dù đôi khi cảm thấy rất buồn ngủ nhưng lại không thể ngủ, thức dậy sớm hơn bình thường. bệnh nhân được coi là mất ngủ khi ngủ ít hơn 2 tiếng mỗi ngày so với bình thường. Bệnh nhân có thể thức trắng cả ngày lẫn đêm trong nhiều ngày dẫn đến suy nhược cơ thể. Mất cảm giác ngon miệng, gầy sút cân, một số ít có biểu hiện tăng cân bệnh nhân trầm cảm mất cảm giác ngon miệng, không muốn ăn thậm chí có trường hợp nhịn ăn hoàn toàn dẫn đến gầy sút cân. Một số ít trường hợp có cảm giác thèm ăn, ăn nhiều hơn bình thường dẫn đến tăng cân Mệt mỏi, giảm tập trung, giảm sút năng lượng hay than phiền mệt mỏi mà không có một nguyên nhân nào, giảm khả năng tập trung vì vậy hiệu quả công việc giảm sút. Cảm giác mệt mỏi thường nặng hơn vào buổi sáng. Không còn hứng thú với việc gì. Bệnh nhân mệt mỏi không muốn làm gì đối với những trường hợp nặng còn không thể thực hiện được các công việc hàng ngày như đi ra chợ, nấu cơm, giặt quần áo Cảm giác vô dụng, tội lỗi luôn có ý nghĩ tiêu cực về bản thân, cảm giác tuyệt vọng không có lối thoát, không còn niềm tin vào bản thân và tương lai. Tự cảm thấy có lỗi với người thân, thua kém người khác, trở nên vô dụng. Biểu hiện sinh lý nhức đầu, mỏi vai gáy, hồi hộp trống ngực, đau nhức tay chân Cảm giác lo lắng vô cớ, ám ảnh bệnh tật vô lý, dễ nổi giận với những người xung quanh, có những cơn sợ hãi, ngại giao tiếp, ít quan tâm đến người khác, đòi hỏi cao về những người khác Hình thức bên ngoài ăn mặc lôi thôi lếch thếch, vệ sinh thân thể kém, cử chỉ chậm chạp hoặc giận dữ vô cớ, giọng nói trầm buồn đơn điệu gợi ý về bệnh trầm cảm. Có ý định và hành vi tự sát hầu hết bệnh nhân trầm cảm đều có ý nghĩ về cái chết nặng hơn là có ý định tự sát. Cảm giác tuyệt vọng không có lối thoát. Họ bị ám ảnh về bệnh tật, chán nản, dễ bị tổn thương dần dần tự nghĩ rằng chết đi cho đỡ đau khổ. Sau một sang chấn tâm lý phá sản, mất hết tiền của, nợ nần, mất đi người thân, hôn nhân đổ vỡ, con cái hư hỏng, áp lực công việc quá lớn,... Sau sinh con khoảng vài tuần chiếm 1 tỷ lệ khá lớn cần được phát hiện kịp thời Đối với học sinh, sinh viên áp lực học tập quá lớn nhiều bài vở, thi cử dồn dập, áp lực từ cha mẹ thầy cô, Sau tổn thương thực tổn chấn thương sọ não,... Đối với một số sang chấn tâm lý không thể lường trước được như mất đi người thân, phá sản cần quan tâm, gần gũi, chia sẻ lấy lại niềm tin cho người bệnh Tránh các sang chấn tâm lý gạt bỏ áp lực trong cuộc sống nếu có thể Đối với những người có biểu hiện trầm cảm cần theo dõi giám sát người bệnh vì người bệnh có thể có hành vi tự sát bất kì lúc nào Đưa đến khám bệnh chuyên khoa tâm thần để được chẩn đoán bệnh kịp thời Có thể chẩn đoán trầm cảm theo 2 tiêu chuẩn sau Tiêu chuẩn chẩn đoán của trầm cảm theo ICD-10F1992 Trầm cảm điển hình bao gồm Có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng sau Giảm khí sắc Mất mọi quan tâm, thích thú Giảm năng lượng, tăng mệt mỏi, giảm các hoạt động Có ít nhất 3 triệu chứng phổ biến sau Giảm tập trung chú ý Giảm tự trọng và lòng tự tin Ý tưởng bị tội và không xứng đáng Nhìn tương lai ảm đạm và bi quan có ý tưởng và hành vi tự sát Rối loạn giấc ngủ Ăn không ngon miệng Các triệu chứng tồn tại ít nhất 2 tuần Không đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán các bệnh lý khác Chẩn đoán trầm cảm theo tiêu chuẩn DSM IV Trong vòng 2 tuần hầu như mỗi ngày Tính khí sầu muộn và hoặc từ chối những niềm vui vốn có cộng với ít nhất 4 trong số các triệu chứng dưới đây Giảm hoặc tăng cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng Mất ngủ hoặc ngủ triền miên Kích động hoặc trở nên chậm chạp Mệt mỏi hoặc mất sức Cảm thấy vô dụng hoặc cảm giác tội lỗi Giảm khả năng tập trung Có ý tưởng và hành vi tự sát Giảm ham muốn Trầm cảm nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời thì nguy cơ bệnh nhân tự sát là rất cao chiếm 50% tổng số bệnh nhân trầm cảm. Trong gia đình, người thân có ai có những biểu hiện trên cần được đưa đến bệnh viện chuyên khoa tâm thần khám phát hiện và chữa trị kịp thời. Nguyên tắc điều trị Cắt các rối loạn cảm xúc Chống tái phát Phục hồi chức năng Không được tự ý dùng thuốc Dùng thuốc đúng, đủ theo phác đồ, không tự ý bỏ thuốc Thông báo với bác sĩ những tác dụng phụ của thuốc để đưa ra hướng giải quyết phù hợp nhất Có nhiều loại thuốc chống trầm cảm, thuốc điều chỉnh khí sắc theo đúng cơ chế bệnh tùy từng trường hợp bệnh cụ thể do bác sĩ chuyên khoa tâm thần kê đơn đem lại hiệu quả rất tốt tỉ lệ khỏi bệnh cao, ít tái phát Điều trị bằng liệu pháp tâm lý chia sẻ, cảm thông, gần gũi người bệnh Điều trị khác như vật lý trị liệu xoa bóp trị liệu, châm cứu,... Xem thêm Bạn có bị trầm cảm không? Trầm cảm nặng Dấu hiệu và nguy cơ tự sát Nhận diện sớm một người trầm cảm
trầm cảm tập 4