truyện ngắn sau 1975
Sau 1975, các tác phẩm của nhà văn lại bám sát những biến chuyển của đời sống, đồng thời cũng đã đề cập đến nhiều bức xúc của xã hội trong thời kỳ đổi mới. Truyện ngắn này được viết năm 1971, được in trên tạp chí Tác phẩm mới cùng năm.
Nghiện Truyện - today (20/10/2022) play . play ; lỗi Nghe tiếp. Lưu nghe sau Tải v ề Xem Video. Xem thêm bình CHUÔNG NGÂN CỬA PHỦ _ Truyện ngắn tâm lý xã hội quá hay và sâu sắc _ MC Đình Duy diễn đọc hấp dẫn.mp3.
Thế giới nhân vật trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu tụ họp nhiều ông bố, bà mẹ có con cái hy sinh hay thương vong bởi chiến tranh. Trong "Cỏ lau", lời của một ông già khi nói về thời cuộc có thể thâu tóm được âm hưởng bi thương của thời hậu chiến
Vay Tiền Online Banktop. VHSG- Trong tiến trình văn học Việt Nam, ở những giai đoạn trước, sự có mặt của nữ giới không chiếm ưu thế. Những năm 60 thế kỉ XX, một số cây bút nữ đã khẳng định vị thế trên văn đàn nhưng chưa thành một lực lượng chủ yếu. Đặc biệt, ở bộ phận văn học miền Nam, đội ngũ nhà văn nữ bắt đầu gây ấn tượng ở số lượng cũng như chất lượng. Sau 1975, và nhất là sau 1986, bên cạnh những tác phẩm của nam giới, vẫn tồn tại một mảng văn học nữ, mang đến một sức sống mới, với những cảm xúc mới mẻ bằng sự mẫn cảm nữ giới. Sự lên tiếng của những người viết văn nữ làm nên một diện mạo khác, riêng so với nam giới. Nhà phê bình Thái Phan Vàng Anh 1. Sự lên tiếng của nữ giới Trong tiến trình văn học Việt Nam, ở những giai đoạn trước, sự có mặt của nữ giới không chiếm ưu thế. Những năm 60 thế kỉ XX, một số cây bút nữ đã khẳng định vị thế trên văn đàn nhưng chưa thành một lực lượng chủ yếu. Đặc biệt, ở bộ phận văn học miền Nam, đội ngũ nhà văn nữ bắt đầu gây ấn tượng ở số lượng cũng như chất lượng. Sau 1975, và nhất là sau 1986, bên cạnh những tác phẩm của nam giới, vẫn tồn tại một mảng văn học nữ, mang đến một sức sống mới, với những cảm xúc mới mẻ bằng sự mẫn cảm nữ giới. Sự lên tiếng của những người viết văn nữ làm nên một diện mạo khác, riêng so với nam giới. Ngoài thế hệ các nhà văn trưởng thành từ giai đoạn chống Mỹ từng bước thay đổi cách viết như Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Ngọc Tú,… một thế hệ mới ra đời, đóng dấu ấn cá nhân bằng những tác phẩm được đông đảo bạn đọc đón nhận. Cho đến nay, sau 40 năm thống nhất đất nước, sau 30 năm đổi mới, đã có thêm ngày càng nhiều những nhà văn “tên tuổi”, như Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Ấm, Y Ban, Dạ Ngân, Phan Thị Vàng Anh,… góp phần khẳng định một thế hệ nhà văn cầm bút và trưởng thành từ sau 1975. Không có nhiều tuyên ngôn, song bằng những trang viết lặng thầm, bền bỉ, bằng số lượng tác phẩm được bạn đọc đón nhận và… thừa nhận, các nhà văn nữ thế hệ trưởng thành sau 1975 đã góp phần không nhỏ trong sự chuyển đổi văn học. Sau 1975, số lượng các nhà văn nữ ngày càng nhiều. Tiếng nói nữ giới trong văn chương có khi còn “trấn áp” cả tiếng nói của nam giới tiếng nói của nhà văn nam, của nhân vật nam. Ban đầu, cũng có không ít ý kiến cho rằng văn chương phụ nữ, chuyện của phụ nữ,… chẳng bao giờ có tầm, một khi họ ít quan tâm về… đại sự. Song, cuộc sống không chỉ được dệt nên bởi các đại tự sự; và hơi thở của cuộc sống lại thường nằm ở những chi tiết, những câu chuyện nhỏ nhất mà chỉ trái tim nhạy cảm của phụ nữ mới có thể phát hiện, trân quý và níu giữ. Về sau, cùng với những thay đổi của xã hội trong quan niệm về chức năng, nhiệm vụ của văn chương; cùng với những đòi hỏi khác của độc giả về văn học như một loại hình giải trí, các câu chuyện của phụ nữ, gắn với phụ nữ,… ngày càng được chú ý. Chuyện thường ngày, chuyện tình yêu, hôn nhân, chuyện tủn mủn, và những vấn đề nhức nhối của xã hội,… đĩnh đạc bước vào các trang văn phụ nữ và trở thành những câu chuyện không chỉ của phụ nữ. Tiếng nói của giới nữ trong văn học khiến độc giả phải nghĩ khác về một bộ phận văn học nữ. Không còn đi bên lề, văn xuôi nữ dần sóng đôi với văn xuôi của các nhà văn nam giới, cùng làm nên một diện mạo nói chung của văn xuôi sau 1975. Và nếu xem sự vận động của văn xuôi 30 năm đổi mới như một đồ thị hình sin, không phải không có những thời kì, xếp quanh vị trí đỉnh, vị trí cực đại là các cây bút nữ… Có thể nói, đã có một diễn ngôn của giới nữ trong văn xuôi thế hệ nhà văn sau 1975. Đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, văn đàn Việt Nam xôn xao bởi sự xuất hiện của nhiều cây bút nữ mới, đặc biệt ở lĩnh vực truyện ngắn. Phạm Thị Hoài gây ấn tượng với tiểu thuyết Thiên sứ và tập truyện ngắn Mê lộ. Y Ban khẳng định ngay tên tuổi với truyện ngắn Bức thư gửi mẹ Âu Cơ – giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1989 – 1990, và tập truyện Người đàn bà có ma lực – giải nhì cuộc thi viết về Hà Nội của NXB Hà Nội năm 1993. Sau một vài truyện ngắn gây tiếng vang, Võ Thị Hảo trở thành một tên tuổi kể từ tập truyện Biển cứu rỗi. Tiếp ngay đó, Nguyễn Thị Thu Huệ với mỗi năm mỗi tập truyện Cát đợi, Hậu thiên đường, Phù thủy, và gần đây là Thành phố đi vắng giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2012, thể hiện sức bền và không ngừng đổi mới cách viết của nhà văn… Với những tác phẩm xuất bản rải rác từ giữa những năm 80, Lý Lan, Dạ Ngân, Bích Ngân,… đã bền bỉ xác lập chỗ đứng sau ba thập kỉ sáng tác không ngừng nghỉ ở nhiều thể loại. Hơn kém nhau chừng nửa thập kỉ, xuất bản trước sau cũng chừng nửa thập kỉ, Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Trần Thanh Hà, Phan Thị Vàng Anh,… cùng tạo dấu ấn khi còn khá trẻ và cùng làm nóng văn đàn với rất nhiều tập truyện ngắn ở thập niên 90 của thế kỉ XX. Đáng mừng là trong 15 năm đầu thế kỉ XXI, những cái tên từng lạ lẫm, mới mẻ ấy không chỉ trở nên rất quen thuộc mà tiếp tục buộc độc giả phải nhắc tên. Một số tác giả đã thử nghiệm ở tiểu thuyết, tản văn và có những thành công mới Võ Thị Hảo, Y Ban, Lý Lan, Dạ Ngân, Thùy Dương, Võ Thị Xuân Hà, Trần Thanh Hà, Phan Thị Vàng Anh,…. Văn xuôi nữ đầu thế kỉ XXI còn được tiếp sức bởi một số nhà văn nữ thế hệ sau 1975 sống và viết ở hải ngoại như Thuận, Đoàn Minh Phượng,… với nhiều tác phẩm lần đầu được xuất bản ở trong nước. Những tên tuổi, những phong cách nghệ thuật đã hình thành một dòng văn nữ trong văn học Việt Nam 30 năm đổi mới. Và để có được những thành tựu không nhỏ ấy, các nhà văn nữ đã luôn “rút ruột” sáng tác cho chính mình, cho giới mình, với tâm niệm “Luôn ước muốn sáng tạo một nền văn học cho chính mình a literature of your own. Cho chính mình? Tức là cho thời đại mình”[1]. Bàn về các thế hệ những nhà văn nữ, nhà văn Văn Giá cho rằng, nhìn vào những đóng góp của nhà văn nữ ở nước ta, thì thời nào cũng có những đỉnh cao, cái tôi trong văn học nữ hôm nay là cái tôi đa diện, đa ngã[2]. Trong xu thế hội nhập văn học toàn cầu, thế hệ nhà văn nữ sau 1975 không tỏ ra thụ động. Một số tác giả nữ đã đạt giải thưởng ở nước ngoài. Trong bộ sách Phái đẹp – Cuộc đời & Cây bút, tập 1, ghi lại 43 chân dung nhà văn nữ nhiều thế hệ vẫn còn một số nhà văn chưa được điểm diện chỉ có Nguyễn Ngọc Tư 2008 được trao Giải thưởng Văn học ASEAN nhà văn nữ duy nhất trong số 17 nhà văn được giải thưởng từ 1996-2013. Các nhà văn nữ lên tiếng về điều gì? Nói như Y Ban “Tôi muốn xã hội hãy đọc tác phẩm của các nhà văn nữ như một sự lắng nghe, một sự thấu hiểu. Vì đó chính là tiếng lòng của họ, là những khát khao tự giải phóng bản thân mình”[3]. Như vậy, văn chương nữ trước hết là tiếng lòng, là khát khao của phụ nữ, là bất cứ chuyện gì liên quan đến họ, giúp họ trải nghiệm cuộc sống, khẳng định và giải phóng bản ngã. Văn xuôi nữ kể những câu chuyện về tình yêu, hôn nhân, gia đình,… không phải cái cách lấy những đề tài gần gũi nhất của phụ nữ để kể, tả, bình luận từ “bên ngoài” như các nhà văn nam giới, mà kể về những cảm giác, những run rẩy hạnh phúc, đớn đau,… chỉ của phụ nữ. Văn xuôi thế hệ các nhà văn nữ sau 1975 vẫn quan tâm đến những chuyện lớn của đất nước, của xã hội, song thường từ những góc khuất cuộc sống, những thân phận bé nhỏ. Đã có một “chiến tranh mang khuôn mặt nữ giới” trong sáng tác của Dạ Ngân, Võ Thị Hảo,Võ Thị Xuân Hà, Trần Thanh Hà,… Đã có những câu chuyện lịch sử được nhìn từ góc nhìn giới, nhân vật lịch sử được chiêu tuyết hay kết tội đều từ điểm nhìn bên trong truyện ngắn lịch sử của Trần Thùy Mai, Trần Thị Trường, tiểu thuyết lịch sử của Võ Thị Hảo…. Cũng đã có vô vàn tiếng nói phẫn nộ, bức xúc trước những tiêu cực, tha hóa của xã hội thời hậu chiến trong các tác phẩm của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Lý Lan,… Có những bức tranh xã hội rộng lớn được các nữ nhà văn lựa chọn thể hiện bằng tiểu thuyết như của Võ Thị Hảo, Dạ Ngân, Thùy Dương, Thuận,…. Có nhiều chi tiết đời sống lớn, nhỏ,… được tái hiện từ những ngẫm, nghĩ, cảm nhận của các nhà văn nữ qua tản văn như của Dạ Ngân, Bích Ngân, Thảo Hảo, Trần Thanh Hà,…. Nhìn chung, văn xuôi nữ thế hệ nhà văn sau 1975 không chỉ bao quát nhiều đề tài mà còn trải rộng ở nhiều thể loại. Ở đề tài nào, thể loại nào, các nhà văn nữ cũng tạo nên những dấu ấn nhất định, không chỉ bởi tài năng, bởi những nhọc nhằn nghiêm túc của nghiệp viết lách, mà còn bởi những đặc trưng giới tính đậm nhạt trong các trang văn. 2. Từ ý thức giới đến tinh thần nữ quyền Ý thức giới Gender awareness là khái niệm chỉ mức độ kiến thức và sự hiểu biết về khác biệt trong vai trò và mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới. Ý thức giới được đề cập nhiều ở phương diện xã hội học, xuất phát từ nỗ lực đem lại bình đẳng giới, bảo vệ giới nữ trước những định kiến xã hội, những quan niệm truyền thống vốn coi thường phụ nữ, mặc định phụ nữ phải yếu kém hơn nam giới. Dĩ nhiên, phụ nữ có giới tính riêng – giới tính nữ, phân biệt với giới tính nam. Song khái niệm “nữ tính” vốn do đàn ông gán cho phụ nữ để chỉ những đặc điểm về mặt xã hội thay vì những đặc điểm thuộc về bản tính, giới tính, từ đó quan niệm phụ nữ là yếu kém yếu đuối, phụ thuộc,… chỉ là kết quả của ý thức hệ nam quyền kéo dài qua nhiều thế kỉ. Và với cách nhìn lấy nam giới là trung tâm, người nữ đã bị biến thành… phụ nữ. Nói như Simone de Beauvoir trong câu nói nổi tiếng toàn thế giới “Người ta không phải sinh ra là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ”. Đấu tranh cho giới luôn là hoạt động âm thầm của nhiều thế hệ phụ nữ từ xưa đến nay. Song, phải đến thế kỉ XVII, đặc biệt là vào thế kỉ XVIII, những tiếng nói của phụ nữ, vì phụ nữ, mới được vang lên một cách mạnh mẽ, riết róng. Xuất bản quyển sách đầu tay với tựa đề Một đề nghị nghiêm túc cho quý bà A Serious Proposal to the Ladies, 1694, và nhiều tác phẩm liên quan đến phụ nữ sau đó, nhà văn người Anh Mary Astell được xem là một trong những người phụ nữ đầu tiên đề cập đến các vấn đề nữ quyền. Tuy vậy, phải đến thế kỉ XVIII, trên thế giới mới thực sự xuất hiện những nhà nữ quyền đúng nghĩa. Với cuốn Sự bào chữa về quyền của phụ nữ Vindication of the Rights of Woman, 1792 và nhiều tác phẩm khác, Mary Wollstonecraft, nhà triết học, nhà văn người Anh, đã tiến hành một cuộc bút chiến “vì giới tính của tôi, không phải vì bản thân” và được mệnh danh là là “nhà nữ quyền đầu tiên”, “người mẹ của thuyết nữ quyền”. Cùng thời với Mary Wollstonecraft, tại Pháp, Olympe de Gouges cũng đưa ra Bản tuyên ngôn về những quyền của đàn bà và nữ công dân Declaration of the Rights of Woman and the Female Citizen, 1791 và đã đấu tranh vì phụ nữ và vì chế độ da đen cho đến chết với lời tuyên bố dõng dạc “Một phụ nữ có quyền bước lên đoạn đầu đài thì họ cũng phải có quyền bước lên diễn đàn”. Được xem là nhà nữ quyền đầu tiên tại Mĩ, Judith Sargent Murray cũng đã lên tiếng đòi bình đẳng giới giữa nam và nữ với tiểu luận Bàn về sự bình đẳng giới On the Equality of the Sexes, 1790, mở đường cho suy nghĩ, những ý tưởng mới. Tư tưởng nữ quyền thế kỉ XIX được biết đến với một số tên tuổi tiêu biểu như Bertha von Suttner 1843- 1914 – tiểu thuyết gia người Áo, Emmeline Pankhurst 1858-1928 – nhà hoạt động chính trị người Anh,… Sang thế kỷ XX, nhà văn người Anh Virgina Woolf với Căn phòng riêng A Room of One’s Own, 1929, Ba đồng ghinê Three Guineas, 1938 và nhà triết học, nhà văn Pháp Simone de Beauvoir với Giới tính thứ hai 1949 đã khiến tư tưởng nữ quyền lan rộng ra toàn thế giới… Hoạt động nữ quyền và đấu tranh vì bình đẳng giới liên tục diễn ra sôi nổi từ ấy cho đến giờ. Ý thức về giới tính ở chính giới nữ cũng đã được nâng lên nhiều so với các thế kỉ, các thập kỉ trước. Như vậy, chỉ có phụ nữ mới nói được tiếng nói của giới họ. Điểm lại tiếng nói nữ quyền trên thế giới, càng thấy rõ rằng, các nhà văn nữ tỏ ra có nhiều ưu thế hơn trong việc giúp phần còn lại của thế giới và cả thế giới hiểu rõ phụ nữ, họ là ai, thông qua các tác phẩm văn chương. Ở Việt Nam, các nhà văn nữ, đặc biệt là thế hệ sau 1975, cũng là những người đưa ý thức giới từ đời sống vào văn học, và ngược lại, bằng văn học, nâng cao những nhận thức về giới. Các nhận thức về việc phụ nữ phải được xem là một nửa dân số, phụ nữ được quyền tham gia và quyết định ở mọi phương diện đời sống, phụ nữ phải được bảo vệ và bồi dưỡng, đào tạo, phụ nữ phải được tự do trong khẳng định bản ngã, tự do trong tình dục,… đã được nhiều nhà văn nữ công khai lên tiếng, giúp cho cả hai giới nam và nữ nhận biết sự khác biệt giới tính cũng như những đòi hỏi bức thiếtvề bình đẳng giới. Không đến mức phủ định hoàn toàn cách nhìn nhận của nam giới về phụ nữ như nhà văn, nhà triết học mang tư tưởng nữ quyền người Pháp François Poulain de la Barre 1647-1723 cho rằng “Tất cả những gì được những người đàn ông viết về phụ nữ đều phải được xem xét với sự nghi ngờ, bởi vì họ vừa là quan tòa vừa là bè phái”[4]; song các nhà văn nữ thế hệ sau 1975 ở Việt Nam đã chứng minh rằng, nhờ có họ, xã hội Việt Nam đã có những cách nhìn khác hơn về phụ nữ so với trước. Phụ nữ trong trang viết của các nhà văn nữ, phụ nữ của đất nước Việt Nam thời hậu chiến, thời đổi mới, đã ý thức hơn về bản thân, về giới tính của chính mình. Và từ những thức tỉnh giới tính ấy, trong nhiều tác phẩm, tiếng nói nữ giới tiếng nói của nhà văn nữ, của nhân vật nữ, của tự thân những câu chuyện về phụ nữ… đã trở thành những diễn ngôn mang đậm tinh thần nữ quyền. Thật ra, không hẳn sáng tác của bất kì nhà văn nữ nào cũng mang tinh thần nữ quyền. Song, mang đặc trưng của giới, các nhà văn nữ khó có thể chối bỏ những cảm nhận nữ tính trong tư tưởng, trong cách hành văn của bản thân. Với những nhà văn nữ mang ý thức viết về cho mình/giới mình, lối viết nữ giới và những câu chuyện liên quan đến các trải nghiệm giới tính lại càng được bộc lộ rõ. Cũng chỉ những trải nghiệm giới tính của chính bản thân, hay của những hóa thân thành những số phận đồng giới mới khiến văn xuôi nữ trở thành những diễn ngôn của “giới tính thứ hai”. Kể từ sau 1975, chưa bao giờ trong văn học Việt Nam lại xuất hiện nhiều đến thế những tác phẩm văn học mang đậm ý thức giới tính. Nhiều tác phẩm đã công khai “danh tính” của giới nữ ngay từ nhan đề Hành trang của người đàn bà Âu Lạc Võ Thị Hảo, Người đàn bà ám khói Nguyễn Thị Thu Huệ, Người đàn bà bí ẩn Phạm Thị Ngọc Liên, Người đàn bà bơi trên sóng Bích Ngân, Người đàn bà kể chuyện, Tiểu thuyết đàn bà, Ba người đàn bà Lý Lan, Đàn bà xấu thì không có quà, I am đàn bà, Người đàn bà có ma lực Y Ban, Trên mái nhà người phụ nữ, Gánh đàn bà Dạ Ngân,… Nhiều tiêu đề tác phẩm chứa đựng những kí hiệu “ám chỉ” về chuyện của giới nữ Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Xuân Từ Chiều Y Ban; Nàng tiên xanh xao, Hồn trinh nữ, Góa phụ đen Võ Thị Hảo, Thiếu phụ chưa chồng Nguyễn Thị Thu Huệ, Gia đình bé mọn Dạ Ngân, Chuyện của con gái người hát rong Võ Thị Xuân Hà, Gái một con Trần Thanh Hà, Thần nữ đi chân không Trần Thùy Mai,… Đa dạng về phong cách, thể loại, những người đàn bà viết thế hệ sau 1975 đã đi từ những diễn ngôn cá nhân đến những diễn ngôn của giới, biến những ý thức về giới trong xã hội thành những “tuyên bố” của giới nữ thông qua những câu chuyện trải nghiệm giới tính trong văn chương. Đó là thân phận phụ nữ với những bi kịch, những nỗi đau bởi chiến tranh trong các tác phẩm Trong nước giá lạnh Võ Thị Xuân Hà, Thế giới xô lệch Bích Ngân, Tiểu thuyết đàn bà Lý Lan,… Đó là những mặc cảm sinh lí, mặc cảm giới tính trước những định kiến “nam quyền” của xã hội trong Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Người đàn bà có ma lực Y Ban, Hậu thiên đường, Thiếu phụ chưa chồng Nguyễn Thị Thu Huệ, Hồn trinh nữ, Người sót lại của rừng cười Võ Thị Hảo, Thập tự hoa, Trăng nơi đáy giếng Trần Thùy Mai hay Mưa ở kiếp sau Đoàn Minh Phượng, Paris 11 tháng 8 Thuận,… Với lối viết “tự ăn mình”, nhân vật trong văn xuôi nữ chính là sự hóa thân của chủ thể nữ giới. Ý thức giới thể hiện rõ ở phương thức kể chuyện từ ngôi thứ nhất, nhân vật tôi/đàn bà/người kể chuyện kể chuyện mình, chuyện giới mình, chuyện thế sự,… qua trường nhìn phụ nữ. Về phương diện này, các nhà văn nữ thường chọn hình thức tự thuật. Điểm nhìn của chuyện/truyện hầu hết đều là điểm nhìn bên trong. Nhân vật và người kể chuyện cũng thường đồng nhất, xưng tôi để kể những chuyện chỉ riêng tôi mới biết chuyện trinh tiết, chuyện trở thành đàn bà, chuyện ngoại tình, chuyện chối bỏ bản năng làm mẹ,…. Những bí ẩn giới tính trong nhiều trang văn nữ giới trở thành những sự chia sẻ, trải lòng. Tôi chỉ sống để đi tìm những bí ẩn của các số phận đàn bà trong gia đình tôi là câu chuyện của Tôi – Mai Chi trong Mưa ở kiếp sau Đoàn Minh Phượng. Tôi, “cái giống lạc loài”, không đủ dũng khí để bảo vệ hài nhi trong bụng – cũng là “cái giống lạc loài” của tình yêu… lại là một câu chuyện giới tính khác được lồng ghép khéo léo qua hình thức kể chuyện bằng thư độc đáo Bức thư gửi mẹ Âu Cơ Y Ban. Tôi, người phụ nữ đã đi qua nhiều khúc đoạn của cuộc đời, đã từng bay lên thiên đường và rơi xuống bởi gánh đàn bà trên vai,… cũng là những chia sẻ đằm thắm trong một tản văn của Dạ Ngân Gánh đàn bà,… Dưới hình thức tự sự như một lời độc thoại, song lại luôn đặt vấn đề để đối thoại với chính mình, giới mình; đối thoại với nửa còn lại của thế giới… truyện ngắn, tiểu thuyết tự thuật và tản văn nữ sau 1975 đã đem “chuyện” của giới nữ đến gần hơn với công chúng. Nhiều tác phẩm có sự đánh tráo ngôi kể, người kể chuyện tôi/ đàn ông/ hoặc ẩn sau một gương mặt phụ nữ khác truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, tiểu thuyết Võ Thị Xuân Hà…; cũng có nhiều tác phẩm được kể bởi lối trần thuật khách quan hóa từ ngôi thứ ba, nhưng điểm nhìn hạn tri khác với truyền thống và diễn ngôn chủ đạo của tác phẩm vẫn là diễn ngôn nữ giới, điểm nhìn kể chuyện vẫn là điểm nhìn bên trong của nữ giới. I am đàn bà Y Ban, Thiếu phụ chưa chồng Nguyễn Thị Thu Huệ, Gia đình bé mọn, Con chó và vụ li hôn Dạ Ngân, Tiểu thuyết đàn bà Lý Lan,… là những tác phẩm như thế. Truyện được kể từ điểm nhìn của người kể chuyện hàm ẩn/ tác giả nữ. Điểm nhìn nữ giới này lại thường xuyên đồng nhất/ thống nhất với điểm nhìn của các nhân vật nữ Thị trong I am đàn bà, My trong Thiếu phụ chưa chồng, Tiệp, Đoan trong Gia đình bé mọn, Con chó và vụ li hôn, Thoa trong Tiểu thuyết đàn bà… Với đặc điểm đó, văn xuôi nữ thế hệ nhà văn sau 1975 hiếm khi khách quan, trung tính. Giọng điệu trần thuật trong nhiều tác phẩm thường giàu cảm xúc. Đặc trưng giới và ý thức về giới khiến các nữ văn sĩ thường để “lộ” tư tưởng, quan niệm, tình cảm chủ quan nhiều hơn so với các nhà văn nam giới. Điều này một mặt giúp các diễn ngôn nữ giới trong văn chương được bộc lộ rõ nét; song mặt khác lại khiến họ đôi khi đã tự khuôn mình vào khu vực “văn học giới”, thay vì nhập vào dòng văn học đương đại nói chung. 3. Nữ quyền luận và hiện sinh – những tiếng nói khẳng định nhân vị giới Simone de Beauvoir vừa là một nhà nữ quyền luận vừa là nhà văn mang tư tưởng hiện sinh. Kết hợp, bổ sung hai triết thuyết lớn với những nhận định nhân bản, de Beauvoir được xem là một trong những người sáng lập ra thuyết Nữ quyền hiện sinh. Tiếp nhận những lí thuyết hiện đại, thế hệ nhà văn nữ sau 1975 đã đem lại một tinh thần mới cho văn học đương đại – điều cơ bản nhất là khẳng định nhân vị đàn bà. Ý thức nữ quyền là sự phát triển và thể hiện cao nhất của ý thức về giới ở phụ nữ. Vượt lên trên sự tự ý thức về giới tính, về những đặc trưng của giới nữ trong tương quan với giới nam, ý thức nữ quyền là sự tự nhận thức về quyền và địa vị của phụ nữ. Từ những nhận thức ấy, những nhà văn nữ đã bằng nhiều cách, phản đối những gì chống lại phụ nữ trên mọi phương diện, trong đó có bất bình đẳng tính dục. “Trong bản thể con người vốn có một thứ căn bản nguyên sơ là dục vọng, và thứ dục vọng này đưa đến ham muốn tiếp xúc nhục thể, tạo thành sự cộng hưởng sinh hoạt” Michel Foucault [5]. Nhà nữ quyền hiện sinh de Beauvoir nổi tiếng với những nhận định về bình đẳng giới trong tình dục “Để trở thành một cá nhân hoàn toàn và bình đẳng với nam giới thì người nữ phải được tiếp cận với thế giới nam giống như người nam tiếp cận với thế giới nữ”[6]. Khẳng định nhân vị đàn bà, đã có một hiện sinh tính dục trong các trang văn phụ nữ. Cùng với những diễn ngôn tính dục được trao cho phụ nữ, văn xuôi thế hệ các nhà văn nữ sau 1975 đã làm nên một âm hưởng nữ quyền trong bức tranh chung của văn học đương đại Việt Nam. Trong hành trình xác lập cái tôi nữ giới, người kể chuyện/ tác giả nữ không chỉ khẳng định bản ngã mà còn tự giải phóng bản thân, bằng ý thức về vẻ đẹp nữ giới; ý thức về cái tôi cá thể; về những đòi hỏi bản năng,…; những trải nghiệm tính dục cũng xuất hiện với mật độ ngày càng nhiều tác phẩm Y Ban, Dạ Ngân, Võ Thị Xuân Hà, Thuận…. Những năm đầu sau 1986, bối cảnh xã hội những năm tháng vừa mới ra khỏi chiến tranh, vừa làm quen với thời đổi mới khiến ý thức nữ quyền trong nhiều tác phẩm dù đã lên tiếng, song vẫn chưa được đẩy lên đến mức bạo liệt Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Người đàn bà có ma lực, Con chó và vụ li hôn.... Nhà không có đàn ông của Dạ Ngân là tác phẩm đề cập trực tiếp quyền của đàn bà khá sớm. Từ cái nhìn “bên trong” của nhân vật, của giới, Dạ Ngân bình luận “Những người thân của chị đã thành công khi họ nhân danh đủ thứ, truyền thống và tiêu chuẩn, tình thương và sự hy sinh nhưng không ai để lộ một lẽ nhân danh khác, ấy là tính đàn bà. Họ đã gắp gọn ra khỏi trái tim người phụ nữ trẻ ấy khát vọng tình yêu, cái mà con người cần hơn mọi thứ, vì từ đó mà có tất cả”. Đầu thế kỉ XXI, vượt lên định kiến, văn xuôi thế hệ các nhà văn nữ sau 1975 không chỉ là diễn ngôn của giới mà trở thành những diễn ngôn mang ý thức nữ quyền – hiện sinh. Theo Soeren Kierkegaard – ông tổ sáng lập chủ nghĩa hiện sinh “Hiện sinh, là bước ra khỏi phòng tối, là không chấp thuận cái kín cổng cao tường, là chối từ cái im lìm, cái bất động của cái gì đã đạt, đã xong, đã rồi, đã đủ… Không. Sống là còn đòi hỏi thêm… thêm… Thế còn chưa đủ. Thế vẫn chưa vừa. Hôm nay phải khác hôm qua. Ngày sau không thể nào lập y như bữa trước”[7]. Không chấp thuận cái kín cổng cao tường… nhiều nhà văn đã lên tiếng bênh vực cho giới nữ, kể cả “nổi loạn tính dục” để khẳng định vị thế. Nhân vật của Nguyễn Thị Thu Huệ “luôn muốn một cái gì như gió bão chứ không đủ sức chịu đựng và chờ đợi sự thấm lâu của mưa ngâu” Người xưa; “Tôi cóc cần sống vì ai. Tôi phải vì tôi bởi cũng có ai nghĩ đến tôi đâu” Thiếu phụ chưa chồng. Tính dục là nhu cầu, là đời sống của nữ giới, là tự do cá nhân. Khẳng định nhân vị trong đời sống tính dục trở thành biểu hiện rõ nhất của ý thức nữ quyền hiện sinh, bên cạnh những giải thiêng đạo đức, truyền thống,… từng xuất hiện trong văn xuôi nữ giai đoạn trước. Với nhiều truyện ngắn I am đàn bà, Gà ấp bóng… và nhất là với hàng loạt tiểu thuyết tấn công mạnh mẽ vào ý thức hệ nam quyền Xuân Từ Chiều, Trò chơi hủy diệt cảm xúc,…, Y Ban vẫn luôn là nhà văn sôi sục ý thức nữ quyền hơn cả. Tiêu đề truyện, phát ngôn ngắn gọn của một nhân vật nữ trong truyện ngắn Y Ban “I am đàn bà”, chính là lời xác tín nhân vị đàn bà dẫu từ góc khuất bản năng giới. Được viết bằng ngôn ngữ thân thể, vấn đề tính dục trong tiểu thuyết nữ có khi còn mạnh mẽ, bạo liệt hơn so với tiểu thuyết của nhà văn nam giới. Những năm 60 của thế kỉ XX, trong một bộ phận văn học miền Nam, Nguyễn Thị Hoàng khá bạo liệt khi để nhân vật nữ chiêm ngưỡng thân thể đàn ông và khơi lên những cồn cào, rạo rực bản năng “Trâm nhìn khoảng cườm chân trắng nõn của Minh hé lên giữa ống quần và tất đen”; “chiếc áo len xanh ngắn rướn lên để hở một khoảng da bụng trắng muốt” Vòng tay học trò. Thuộc thế hệ khác, trong bối cảnh xã hội khác, nhiều nhà văn nữ thế hệ sau 1975 đã thay đổi những cái nhìn duy dương vật vốn lấy nam giới làm trung tâm. “Tôi nằm phơi dưới cơn mưa, đồng loã với đất trời trêu ngươi bản lĩnh chuyên chính của Tăng…”; “Tôi ngủ trên cỏ, trần truồng, thích thú …”, “Cười nhạo sự thánh thiện. Mơn trớn và giục giã…” Trong nước giá lạnh – Võ Thị Xuân Hà. Với cảm thức hiện sinh, các nhà văn nữ đã ý thức khắc họa một kiểu nhân vật nữ lạc lõng, xa lạ giữa một thế-giới-vắng, thế giới phi lí. Trong các không gian rỗng, nhân vật nữ thường rơi vào tâm trạng cô đơn, chông chênh trong trạng thái vừa muốn kết nối vừa tách rời cuộc sống. “Bước qua mỗi ngày sống, người ta tiến gần đến với cái chết của mình hơn” M. Heidegger. Lo âu, thiếu vắng, cái chết trở thành phổ biến trong nhiều tác phẩm. Những cái chết phi lí trong một thế giới vô cảm Thành phố đi vắng – Nguyễn Thị Thu Huệ. Những cái chết được lựa chọn sau những phút giây truy tìm bản thể, trả lời/ không thể trả lời được câu hỏi về sự hiện tồn “Tôi là ai?” tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng. Những cái chết tất yếu sau nỗi đau phải sống tiểu thuyết Thuận,… Như vậy, ngoài ý thức về bản năng tính dục từ góc nhìn giới, ý thức về bản năng chết “có chức năng đưa tất cả những gì ở trạng thái sống động về trạng thái bất động”[8] cũng xuất hiện trong sáng tác của nhiều nhà văn nữ. Kết luận Văn học sau đổi mới đã đi được một chặng đường 30 năm. Các nhà văn nữ thế hệ sau 1975 cũng đã có thâm niên sáng tác từ 20 đến 30 năm và có thể còn dài hơn nữa Nhiều tác giả vẫn đang ở giai đoạn sung sức, bút lực dồi dào, hứa hẹn sẽ tiếp tục đem đến những tác phẩm mới có giá trị. 30 năm trong tiến trình vận động của văn học chỉ là một giai đoạn ngắn, nhưng sự nghiệp 20, 30 năm sáng tác với nhiều tác giả là một sự nghiệp đáng tự hào. Theo quy luật sàng lọc khắc nghiệt của thời gian, một vài thập kỉ, một vài thế kỉ nhiều khi cũng chỉ còn lại một vài tên tuổi. Song cũng theo quy luật về sự “trỗi dậy”, “bừng nở” trong các giai đoạn văn học chuyển đổi, bước sang một trang mới, có những giai đoạn văn học ngắn lại đem đến những bước tiến dài. 30 năm văn học đổi mới với sự đóng góp không thể phủ nhận của các nhà văn nữ thế hệ sau 1975 là một giai đoạn như thế. Các nhà văn nữ đã cùng nhau làm nên một dòng văn học nữ giàu bản sắc, tiếp tục cất lên tiếng nói của nữ nhân Việt Nam. Tiếng nói nữ giới ấy không còn là những tiếng nói cá nhân, nhỏ lẻ như những thời kì, những giai đoạn văn học trước. Tiếng nói phụ nữ trong văn xuôi 30 năm đổi mới đã là tiếng nói chung của giới nữ. Nhờ sự tập hợp đông đảo ấy, các nhà văn nữ thế hệ sau 1975 đã không chỉ khẳng định ý thức giới tính mà còn tạo nên một diễn ngôn của giới mang đậm âm hưởng nữ quyền. Văn học nữ nhờ đó không còn là một bộ phận, một khu vực văn học “ngoại biên” của nền văn học chính thống. Văn học, văn xuôi nữ trở thành một bộ phận không thể chia cắt, tách rời của nền văn học đương đại. Diện mạo của văn học Việt Nam đương đại cũng sẽ khuyết thiếu, bất thành hình nếu không tính đến sự góp phần của văn xuôi nữ, đặc biệt là văn xuôi của các nữ nhà văn thế hệ sau 1975. PGS-TS THÁI PHAN VÀNG ANH ____________ [1] Võ Thị Xuân HàVăn trẻ – bình tĩnh và vững tâm, tham luận tại Tọa đàm giao lưu nhà văn trẻ trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam 2010. Nguồn [2] Ý kiến phát biểu tại Hội thảo về bộ sách “Phái đẹp – Cuộc đời & Cây bút”, Nguồn [3] Y Ban Hãy lắng nghe tác phẩm của nhà văn nữ’, Nguồn [4] Dẫn theo Nguyễn Tấn Hùng “Tư tưởng của Simone de Beauvoir về vấn đề nữ quyền trong tác phẩm Giới tính thứ hai”, Nguồn [5] Michel Foucault “Lịch sử tính dục Chương năm Nữ giới” Khổng Đức dịch. Nguồn [6] Dẫn theo Nguyễn Tấn Hùng “Tư tưởng của Simone de Beauvoir về vấn đề nữ quyền trong tác phẩm Giới tính thứ hai”, Tlđd. [7] Dẫn theo Bùi Giáng “Soeren Kierkegaard và cơ sở chủ nghĩa hiện sinh”, Tư tưởng hiện đại, NXB Văn hóa Sài Gòn, 2008. [8] Sigmund Freud “Cái tôi và cái nó” Trần Thị Mận dịch với sự giúp đỡ của Jean – Noel Cristine, NXB Tri thức, H., 2015, Xem thêm Truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng Tiếng đêm Tọa đàm “Sài Gòn trong tạp văn” Thôi đi những chuyện tào lao Nhà thơ Phan Hoàng Thi ca là cầu nối quyến rũ và thiêng liêng Giáo sư Nguyễn Đình Tứ – Một nhân cách và tài năng khoa học hiếm có
A. MỞ ĐẦUCác vấn đề của đời sống đã đi vào văn học từ những giai đoạn trước năm1975 và giai đoạn sau năm 1975 tiếp tục kế thừa và phát triển “hiện thực nào vănhọc ấy”. Nếu như trước những năm 1975 văn học là hiện thực của chiến tranh thìsau những năm 1975 không còn chiến tranh, cuộc sống thay đổi vì thế đề tài trongvăn học cũng thay đổi, cuộc sống trở về với những gì bình thường vốn có của vì thế văn học cũng trở về với cuộc sống hòa bình, cùng nhau xây dựng đấtnước. Với cuộc sống hòa bình đòi hỏi các nhà văn phải tiếp cận và khám phá hiệnthực cuộc sống một cách nhân bản với tất cả sự phức tạp vốn có của nó. Trong đóNguyễn Minh Châu thuộc tốp người đi đầu mạnh dạn nhưng lặng lẽ thay đổi tất cảcách nhìn của mình, tự tìm cách đổi mới sáng tác của Minh Châu được mệnh danh là “một trong số những người mởđường tinh anh và tài năng nhất” của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông sáng tácở rất nhiều thể loại Tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn tuy nhiên ở giai đoạn sau1975 truyện ngắn của ông là đặc sắc hơn cả với đề tài thế sự. Ông đã có một loạtcác tập truyện ngắn như “Bến quê” 1980, “Người đàn bà trên chuyến tàu tốchành” 1983, “Chiếc thuyền ngoài xa”… tất cả đã làm lên tên tuổi của NguyễnMinh Châu những năm đổi NỘI DUNGI. Những vấn đề lý Đề tài thế niệm đề tài Là khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêutả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Đề tài là phương diện khách quan củanội dung tác phẩm. [110]Khái niệm thế sự Là khái niệm để chỉ những sự việc diễn ra trong cuộc sốnghàng tài thế sự Là mảng đề tài nói về những sự việc diễn ra trong cuộc sốngđời giống như thời kỳ sau hòa bình 1954 sau khi giải phóng hoàn toàn miềnNam thống nhất đất nước 1975 một thời kỳ mới đã mở ra trong đời sống xã hộiViệt Nam độc lập – thống nhất – hòa bình. Vượt qua giai đoạn quán tính 19751985 văn học đang tạo đà phát triển mới. Không chỉ phát triển theo những quy luậtnội tại vốn có của bản thân, văn học giờ đây đã nhanh nhạy trước yêu cầu của cuộcsống, tiếp xúc chủ động, mạnh mẽ với các yếu tố ngoại sinh. Sự tiếp xúc đa danghơn trong môi trường văn hóa cởi mở và hội nhập đã làm thay đổi thị hiểu thẩm mỹcủa người đọc và người cầm bút, thúc đẩy quá trình cách tân hiện đại hóa văn năm 1975 đất nước ta bước chân ra khỏi chiến tranh ác liệt và bắt tay xây dựngcuộc sống hòa bình, chính vì vậy ít xuất hiện những tác phẩm viết về chiến tranhthay vào đó đề tài thế sự đã khẳng định được vị thế của mình. Một cuộc sống mớivới biết bao điều mới mẻ, bao nhiêu mối quan hệ phức Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 văn học trở về với cuộc sống đời thường, không còn những tiểuthuyết chiến tranh ác liệt, những hi sinh mất mát nữa. Chính vì vậy văn học phải cósự thay đổi cho phù hợp với đời sống và Nguyễn Minh Châu thuộc lớp người điđầu trong việc đổi mới sáng tác. Ông đã gặt hái được rất nhiều thành công trong đóbao gồm cả thể loại truyện một thời gian ngắn ông đã sáng tác được một loạt các tập truyện ngắn nhưBến quê 1980, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành 1983, Chiếc thuyềnngoài xa 1983, Mẹ con chị Hằng, Đứa ăn cắp, Hương và Phai, Khách ở quê ra,Phiên Chợ Giát, Bức tranh…II. Đề tài thế sự trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau cuộc sống thời bình, đất nước, con người bước vào thời kỳ đổi mớivới muôn mặt đời thường, các quan hệ thế sự của cuộc sống riêng tư. Với sự mẫncảm của mình, Nguyễn Minh Châu đã đi sâu ngòi bút vào những vấn đề của đề tài thế sự, Nguyễn Minh Châu chỉ viết những câu chuyện bình thườngtrong cuộc sống nhưng qua đó là những bài học vô cùng sâu sắc đối với độc giả.“Sắm vai” là truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu. Nhân vật chínhtrong câu chuyện là anh T. T có thói quen thức dậy lúc hai, ba giờ sáng và ngồi làmviệc đến tận trưa mới đi ăn cho dù trong lúc ấy có hàng trăm con người dậy hối hảăn sáng, tập thể dục, chải tóc. Nhưng đó chỉ là quá khứ còn hiện tại thì khác hoàntoàn. Vì chiều theo cô vợ xinh đẹp, trẻ trung mà đã sẵn sang từ bỏ cả nếp sống quenthuộc. T đã thay đổi thói quen ấy, anh cũng ngủ đến tận 5 giờ sáng, sau đó tập thểdục đến lúc mọi người ăn sáng anh cũng ăn. Anh đi lấy xe đạp về cho vợ, lau chùixe, rồi mấy hôm sau thay hàm răng giả, nhuộm tóc…Vợ anh ở nước ngoài về anhphải chiều vợ với những cái bắt tay kiểu cách, học nhảy, nịnh vợ… Không chỉ đánhmất thói quen, đánh mất bản thân và T còn từ bỏ cả sáng tạo. Qua đó Nguyễn MinhChâu muốn cảnh tỉnh con người trước lối sống tiêu dung phàm tục để rồi đánh mấtcả bản trong truyện ngắn “Đứa ăn ắp”, câu chuyện xoay quanh nhân vật chínhlà Thoan. Thoan vợ của Khánh, cô làm cấp dưỡng và hai người sống trong khu tậpthể cùng với những gia đình khác. Một lần có một người đàn bà trong khu tập thểbị mất hai thước vải hoa rất đẹp phơi ngoài dây, hai ba ngày tìm khắp xó xỉnh màkhông thấy rồi thấy nó ở đáy rương nhà Thoan. Trước đó mọi người cũng có đôilần bị mất cắp và tưởng chừng như những lần đó đều do Thoan lấy cả. Từ đó tưởnglà hết mất cắp nhưng lâu lâu lại xảy ra cắp vặt và họ nghĩ chẳng ai khác ngoàiThoan “lại chỉ có con Thoan chứ không có ai vào đây?”. Cuối tháng 11 có một đợtbiên chế rút gọn người trong cơ quan và quyết định trả cô cấp dưỡng Thoan về trênnhà quê sản xuất. Thoan đang có bầu sắp sinh nên chồng cô muốn xin cho cô nánlại một thời gian đợi sinh xong thì về vì ở quê quá xa bệnh viện. Nhưng nhữngngười đàn bà trong khu tập thể la ó, kêu ca như phải chịu đựng một thứ tai họa. Rồibao nhiêu lời chửi mắng, nguyền rủa Thoan vì vậy chồng cô quyết định đưa cô vềquê. Đến kỳ sinh nở vì ở xa bệnh viên nên cô bị băng huyết và chuyện là tội lỗi về đạo đức trước một người phụ nữ bị chết khi sinh màngười ta đã vu oan, hãm hại đơn giản như thể không chủ tâm, cố ý. Chính thái độthờ ơ vô trách nhiệm với những người cùng sống đã gây ra hậu quả nguy một loạt truyện ngắn về đề tài thế sự sau 1975, Nguyễn Minh Châu đãlàm nổi bật lên sự tự nhận thức của con người. Người họa sỹ trong “Bức tranh” vìtự ái nghề nghiệp mà từ chối vẽ bức tranh chân dung cho người chiến sỹ để anh gửicho mẹ để mẹ yên lòng. Sau đó chính người chiến sỹ ấy đã giúp người họa sỹ vượtqua dòng lũ cuối cùng người họa sỹ cũng chịu vẽ bức chân dung và hứa mang đưađến tận nơi cho bà mẹ. Bao nhiêu bức tranh họa sỹ mất công vẽ thì không đoạt giảingược lại bức tranh chân dung người lính đoạt giải trong cuộc triển lãm và ngườinghệ sỹ năm nào đã quên đi mất lời hứa của mình. Ông đem bức tranh đi triển lãmvà trở thành người nổi tiếng. Tình cờ người họa sỹ gặp lại người chiến sỹ trong thờibình làm nghề cắt tóc và bà mẹ mù vì khóc con quá nhiều. Lương tâm người họa sỹhết sức dằn vặt còn người chiến sỹ thì thản nhiên làm công việc cắt tóc của mìnhnhư không hề nhận ra người năm xưa. Người họa sỹ đã suy nghĩ về chính mình đểphản diện bản thân mình để ánh sáng, con người được thắp lên từ sự chân thành, đểcái xấu, cái thấp hèn được phơi bày trước lương tâm nghiêm minh phán đề trách nhiệm đạo đức trước những người lính của cuộc chiến tranhvừa qua được Nguyễn Minh Châu viết “rất kỹ” trong truyện ngắn Bức tranh đượcviết từ 1976 nhưng đến1982 mới công bố được rất đặc sắc… Bức tranh chưa phảilà kiệt tác của Nguyễn Minh Châu nhưng đó là truyện ngắn bản lề báo hiệu mộtbước chuyển mới trong sáng tạo văn học, dự báo một quan niệm, một bút pháphoàn toàn mới. Trong Bức tranh, không có con người “lý tưởng hóa” mà đó là conngười đa nhân cách Có cả cao đẹp lẫn thấp hèn. Từ những dằn vặt, đối chứng củanhân vật người họa sỹ, câu hỏi lớn - nhức nhối đặt ra cần được trả lời ngay trongtác phẩm là Chúng ta không thể vì cái danh hiệu vinh quang của cộng đồng dântộc mà bỏ qua số phận cá nhân. Cái nhìn của nhà văn đã thay đổi theo hướng nhìnthẳng vào bản chất của hiện thực Chiến tranh không chỉ là ánh hào quang của Chủnghĩa Anh hùng cách mạng mà còn có cả mất mát, đớn đau, giả dối; Chiến tranhcòn làm “cho người ta hư đi hơn là làm người ta tốt hơn”; con người cũng khôngcòn lấp lánh vẻ đẹp thiên thần mà hội tụ cả những ham muốn tầm thường, thấp liền sau Bức tranh là Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành 1983 những vấn đề của “hậu chiến” được Nguyễn Minh Châu suy nghĩ nghiêm túc. Hoặccó thể nói, sau âm hưởng sử thi- anh hùng ca là thứ âm hưởng khác dữ dội hơn,khốc liệt hơn trong các truyện ngắn như Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàutốc hành... Đó là âm hưởng của một nỗi đau không thể nói thành lời trước nhữngmất mát mà chiến tranh gây ra cho dân tộc nói chung, cho mỗi con người cụ thể nóiriêng ...Truyện ngắn Bức tranh có lẽ là điểm đánh dấu rất đáng kể cho một hướngtìm tòi của nhà văn. Không phải ngẫu nhiên ngay ở đầu truyện, nhân vật chính đãgọi câu chuyện của mình là “những lời tự thú”. Có thể gọi đây là truyện ngắn tựthú, là truyện tự ý thức về đạo đức. Đọc truyện, ta sẽ ngập dần vào “cảm giác phạmtội” của nhân vật, ngập dần vào những day dứt như là tự hành hạ mình của ngườiđó. Anh ta, nhân vật họa sĩ có tiếng ấy, không phải là người thất bại, trái lại, làngười thành đạt trong đời. Cái tình thế đã thức dậy ở anh cảm giác có tội, thật ra,cũng không mấy hiển nhiên Chuyện bà mẹ người lính bị mù vì tưởng con trai hysinh và chuyện người họa sĩ quên lời hứa, đã không đem bức tranh hoặc tới thăm bàcụ, báo tin con cụ còn sống − không hẳn là hai việc có quan hệ nhân quả tất yếuhoặc chỉ có vẻ là nhân quả tất yếu trong cách suy nghĩ của nhân vật bây giờ.Nhưng đây chính là nét vốn có của các chuyện tự thú về đạo đức Mức độ tội trạngthực tế càng mơ hồ, càng ít xác định bao nhiêu thì mức độ tự ý thức về tội lỗi củamình ở con người kia càng phải mạnh bấy nhiêu. Vấn đề là anh ta tự thấy mình cótội, tự thấy mình phải chịu trách nhiệm về tai họa của người khác chứ không phải làthật ra anh ta có tội hay không, hoặc mức độ nặng nhẹ ra sao. Một người thànhcông trong đời bỗng thấy mình có tội lỗi gì đấy với ai đấy, ít nhất cũng có nghĩa làanh ta thấy mình chưa hoàn thiện. Và cũng có nghĩa là anh ta có khát vọng tự hoànthiện. Phương diện tích cực, đáng khích lệ của nhân vật là ở đấy. Sức tác động vàosự tự ý thức ở mỗi người đọc truyện sẽ từ đấy mà ra. Những truyện loại này củaNguyễn Minh Châu không hấp dẫn người đọc ở cốt truyện gay cấn hay chi tiết đặcsắc. Nó hấp dẫn người ta chủ yếu bằng độ căng của những tấn kịch nội tâm, độcăng của những thao thức dằn vặt trong bề sâu ý thức nhân vật. Khá gần gũivới Bức tranh về mặt này là Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành. Câu chuyệncủa nữ nhân vật chính − quân y sĩ Quỳ − có thể gọi là lịch sử một tâm hồn. Nhưng,với tất cả tính chất riêng tư của con người này, ta vẫn thấy đấy là một tâm hồnmang “hệ số chung” nhiều hơn là một ngoại lệ. Sẽ không thấy được cái “hệ sốchung” ấy nếu tìm nó qua sự đại diện về thành phần, hoặc qua mức độ phổ biến củakiểu người, kiểu tâm trạng mà các nhân vật của Nguyễn Minh Châu có thể đại diện.“Hệ số chung” ấy, theo tôi là ở tính chất khá “tầm cỡ” của những tình thế xung độtnội tâm mà rõ ràng là nhà văn có dụng ý nhấn mạnh. Nếu nhìn nhận những trườnghợp của Quỳ, của anh họa sĩ như là những trường hợp thuần túy cá biệt, thì dễ chođó là cường điệu, là không “tự nhiên”, không “giống” như thật… Nhưng như thếthì sẽ là không hiểu tác giả, và không hiểu nghệ thuật. Tôi sẽ không cố sức thuyếtphục bạn đọc bằng những trích dẫn cho thấy rằng trong quan niệm mô tả nghệ thuậtcủa phần đông các nghệ sĩ lớn của thế kỷ XX, thì “đời sống đích thực − là đời sốngnội tâm” Romain Roland “lịch sử đích thực − là lịch sử cá nhân” rằngchính quan niệm như vậy đã làm cho họ không hề lo sợ thu hẹp sức khái quát thờiđại khi tập trung sự mô tả vào một mảnh đất nhỏ hơn một con tem là thế giới bêntrong một con người. Tôi chỉ lưu ý là ở văn xuôi Nguyễn Minh Châu, trong giaiđoạn sáng tác mới đây của ông, nhất là ở thể truyện ngắn, nhà văn như đang cố sứcchuyển những tương quan lớn của đời sống bên ngoài vào đời sống bên trong củamột vài con người cụ thể. Và đến lượt nó, cái “quy mô bên trong” đó của nhân vật,dẫu có hơi khác thường, ít “tự nhiên”, nhưng lại cho thấy tầm vóc không nhỏ bécủa con người ở thời đánh giặc hôm qua cũng như ở thời đấu tranh xây dựng hômnay. Cho đến những sáng tác gần đây nhất, Nguyễn Minh Châu cũng chưa bao giờtỏ ra là thích thú miêu tả và miêu tả thành công phương diện gọi là “cái riêng nhỏbé” thực sự của con người thế tục. Và cái điều vừa là ưu điểm vừa là nhược điểmnày ở ngòi bút ông chỉ “tố cáo” một điều Trước sau ôngvẫn là nhà văn của nhữngtình cảm cao cả − nếu không phải cái cao thượng của những phẩm chất người thìcũng là cái cao lớn, “tầm cỡ” của những tình thế, những vấn đề con người. Tôi nghĩsẽ là không quá đáng lắm nếu nói rằng có thể tìm thấy dấu vết “lịch sử tâm hồn”của một hoặc một số thế hệ người đương thời trong cái “lịch sử tâm hồn” của cô ysĩ Quỳ, “người đàn bà quá ham hố”, được trời phú cho khá nhiều ưu thế giới tínhvà cũng có một đời sống tình cảm khác thường. Cô yêu như thể bị “chinh phục” bởitài năng quân sự xuất chúng của một trung đoàn trưởng, yêu từ “tầm xa”, đầyngưỡng mộ, thán phục, nhưng không thể giữ nguyên được tình cảm ấy khi ở gần,khi thấy anh cũng bình thường, tầm thường như những người khác, “cũng mừng rỡhý hửng khi được thăng cấp… cũng chăn một đàn gà riêng, cũng đánh một cái quầnxà lỏn đi phát rẫy, cũng yêu người này, nói xấu sau lưng người kia”… và hiện thâncủa sự bình thường ấy là bàn tay ra mồ hôi “lúc nào cũng dấp dính” khiến cô khóchịu… Rồi con người ấy hy sinh trong một trận đánh ác liệt. Trong nỗi đau, cônhận ra lầm lẫn của mình “Tôi đã không coi họ là những con người đang sống giữacuộc đời mà lại đòi hỏi nơi họ một thánh nhân. Tôi đã đi tìm cái tuyệt đối khôngbao giờ có”. Nhưng sai lầm này chưa qua hết thì một sai lầm nữa lại lộ ra “Tôiđinh ninh rằng tình yêu của tôi có thể cứu sống được hết tất cả mọi người”. Ấy thếmà, trên thực tế “tình yêu mà tôi tưởng hết sức nhiệm mầu, chẳng cứu sống đượcmột ai cả”. Cho đến quãng đời sau chiến tranh, cô vẫn sống trong quan niệm ấy, vàthật ra, cái tình yêu có sức cứu vớt ấy không phải là không có hiệu quả, khi cô dànhnó cho bạn của người liệt sĩ năm xưa, đưa anh ta ra khỏi nhà tù, trở về vị trí củangười sáng tạo khoa học. Cái lịch trình của một tâm hồn muốn tìm thấy một thánhnhân ở người mình yêu đây là điều nhân vật tự cảm thấy, tự phê phán và muốn tựmình làm một thánh nhân trong tình yêu điều thứ hai này là do người kểchuyện phát hiện và “phê bình” nhân vật Quỳ, − rốt cuộc, nữ nhân vật vẫn chưavượt qua được. Vả chăng, phương cách đúng đắn không phải là dứt bỏ toàn bộquan niệm ấy. Vấn đề là ý thức được tính chất phiến diện cực đoan của quan niệm“đi tìm tuyệt đối” ấy. Yếu tố tự phê phán bộc lộ rõ trong lời nhân vật và lời ngườikể chuyện chính là thực hiện chức năng ý thức và tự ý thức. Cái gọi là “lầm lẫn”của Quỳ, có khi là lầm lẫn thực sự, có khi lại bao hàm một lẽ sống đáng trọng. Nóchưa hiển nhiên cứu sống một ai, cũng chưa hiển nhiên “giết chết” một ai, nhưng,cũng tựa như “cảm giác phạm tội” của người họa sĩ trong Bức tranh, chính vìnhững hậu quả không có gì là hiển nhiên nên sự tự ý thức của nhân vật càng rõ đề là ý thức cho được cái phần “sống ngoài ý thức, không hoàn toàn làm chủđược mình” để chế ngự nó, hoặc nói cách khác là ý thức cho được tương quan giữaý chí chủ quan và thực tế khách quan. Câu chuyện lịch sử một tâm hồn, như vậy,trở thành một câu chuyện triết lý về cách nhận thức, về quan niệm sống. Ý nghĩa ẩndụ của nó là khá rõ. Hơn nữa, chỉ khi thừa nhận bình diện ẩn dụ của câu chuyện, tamới có thể chấp nhận những gì ít nhiều cường điệu nếu nhìn thuần túy theo yêu cầumiêu tả “giống” như thực thông thường. Lại cũng phải lưu ý điều mà nhiều nhànghiên cứu đã nhận thấy ở văn học thế kỷ XX, loại truyện ngụ ý, ngụ ngôn, triếtlý, đã không còn chỉ là một thứ con rối cho các luận đề. Ngược lại, loại truyện nàyđã có dạng sinh hoạt tả thực rõ rệt, nhân vật đã được tạo dựng như một tính bình diện ngụ ý triết lý luôn luôn chìm khuất sau bình diện sinh hoạt tả ta thấy điều này ở truyện của Camus, Kafka, Golding hoặc trong vănhọc Xô-viết, ở Bykov, Aitmatov, Dumbatze Trong văn xuôi ở ta gần đây,chúng ta cũng thấy đặc điểm này ở các truyện của Nguyễn Minh Châu, NguyễnKhải, Nguyễn Kiên, Dìm sâu các ẩn ý triết lý vào mạch truyện “giống thực”là cách truyền sự sống cho ý tưởng ấy, tuy nhiên, mặt khác, người viết loại truyệnnày không thể không tìm cách cho ẩn ý kia thỉnh thoảng lại lộ ra, nhô ra. Do vậymà thường có những không khí khác thường cho nhân vật bộc lộ tâm sự, tâm trạng,giống như bị phục rượu mà phải nói to lên những ý nghĩ bao quát hơn, trừu tượnghơn so với lời nói của họ trong các cảnh ngộ thông Khúng trong “Phiên chợ Giáp” đi bán bò già cho người ta làm thịt ở chợCầu Giáp, lão đi từ 3 giờ đến 7 giờ, quãng đương đi ấy hết 5h đồng hồ. Song cuộchành trình đó lại là những hồi tưởng về quãng đời trước kia, những đau khổ nhọcnhằn, những phi lý đọa đầy, lừa đảo, cái sống và cái chết và cả những giọt nướcmắt. Nguyễn Minh Châu đã dựng lên hình tượng người nông dân vừa là bò khoangvừa là lão Khúng, hai mà một, một mà hai. Bò khoang là hiện thân của sức chịuđựng bền bỉ làm việc nhẫn nại “suốt đời nai lung ra làm kéo cày”. Đối lập với hiệnthực cuộc sống khắc nghiệt là mơ ước giải thoát, thoát khỏi cuộc sống lam lũ cơcực không phải kéo cày, kéo xe và được ăn uống thỏa thuê. Chính vì thế lão Khúngđã giải thoát cho con bò khoang không chỉ chứng tỏ tình thương, lòng tốt mà còncó ý nghĩa là sự tự giải thoát. Nhưng đến kết truyện, từ rừng sâu con bò lại quay trởlại với chủ qua đó ta thấy sự quẩn quanh của số kiếp bò khoang là sự thất bại củaảo tưởng tự một số tác phẩm Nguyễn Minh Châu đã phơi bày những mặt trái của xãhội từ đó đưa ra những bài học đúng đắn trong cách nhìn nhận cuộc sống cũng nhưđánh giá con người.“Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện ngắn tiêu biểu. Theo yêu cầu của trưởngphòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung cũng là nơianh từng chiến đấu để chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau. Sau nhiều ngày“phục kích”, người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một cảnh đắt trời cho” – đólà cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương. Nhưngkhi chiếc thuyền vào bờ, anh đã ngạc nhiên đến sững sờ khi chứng kiến từ chínhchiếc thuyền đó cảnh người chồng vũ phu đánh đập vợ một cách dã man, đứa convì muốn bảo vệ mẹ đã đánh trả lại cha mình. Những ngày sau, cảnh tượng đó lạitiếp diễn và lần này người nghệ sĩ đã ra tay can thiệp... Theo lời mời của chánh ánĐẩu một người đồng đội cũ của Phùng người đàn bà hàng chài đã đến toà ánhuyện. Tại đây, người đàn bà ấy đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhấtquyết không bỏ lão chồng vũ phu. Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đócũng là lí do giải thích cho sự từ chối trên. Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, ngườinghệ sĩ đã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền vàbiển” năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ đều thấy hiệnlên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn bao giờ anh cũngthấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam lũ bước ra từ tấm hai phát hiện của nghệ sỹ Phùng với sự đối lập một bên là bức tranhcảnh biển buổi sớm đẹp toàn thiện toàn mỹ với một bên là cuộc sống lam lũ vất vảđặc biệt là nạn bạo lực trong gia đình người đàn bà hang chai, Nguyễn Minh Châuđã đưa ra bài đúng đắn trong cách nhìn nhận cuộc sống. Để đánh giá một sự việc,vấn đề thì phải đi sâu vào bản chất bên trong, không nên đứng từ xa rồi đưa ra nhậnxét. Cũng đừng đồng nhất vẻ đẹp bên ngoài với bản chất bên trong. Với câu chuyệncủa người đang bà hàng chài tại tòa án huyện tác giả đưa ra cái nhìn đa chiều trongnhìn nhận cuộc sống. Phùng và Đẩu khuyên người đàn bà hàng chài bỏ chồng, mụcđích của hai người là tốt tuy nhiên cái nhìn của họ chỉ một chiều, đơn giản. Họ chỉnghĩ đến mực đích duy nhất là giải thoát cho người phụ nữ ấy. Còn ngược lạingười đàn bà hang chai lại suy nghĩ vô cùng sâu sắc. Người phụ nữ ấy không bỏchồng trước hết vì chị biết ơn chồng. Chính người chồng đã lấy chị trong khi tất cảmọi người chê xấu. Chị thấu hiểu chồng và biết bản chất của chồng không phải vũphu mà do hoàn cảnh. Cuối cùng chị lo cho các con, không có bố các con lấy gì ăn,lấy ai dậy bảo, chăm từng là người lính cầm súng chiến đấu để đem lại cuộc sống thanh bình, hiện thực cuộc sống vẫn còn những góc khuất. Đặc biệt là câu chuyệncủa người đàn bà làng chài ở tòa án huyện. Bề ngoài,đó là một người đàn bà nhẫnnhục,cam chịu,bị chồng thường xuyên hành hạ,đánh đập thật khốn khổ “ba ngàymột trận nhẹ,năm ngày một trận nặng”, nhưng người đàn bà vẫn kiên quyết gắn bóvới lão đàn ông ấy “Con lạy quý tòa.. Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù concũng được,đừng bắt con bỏ nó”. Nguồn gốc của những nghịch lí đó là tình thươngvô bờ đối với những đứa con “Đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phảicó người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng..phảisống cho con chứ không phải sống cho mình”. Phùng từng là người lính chiến đấugiải phóng miền Nam khỏi nanh vuốt quân xâm lược nhưng lại không thể nào giảiphóng được số phận của người đàn bà bất hạnh. Qua câu chuyện của người đàn bà,Phùng càng thấm thía Không thể đơn giản trong cái nhìn về cuộc đời và con đàn bà hàng chài không có tên ,một người vô danh như biết bao ngườiđàn bà vùng biển thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biếtbao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu đức hi sinh. Người đàn bà ấythật đáng chia sẻ cảm thông. Lão đàn ông trước kia là một “anh con trai cục tínhnhưng hiền lành” nay là một người chồng độc ác. Ông ta vừa là nạn nhân của cuộcsống khốn khổ,vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho chính những người thâncủa thế nào để đem lại cái phần thiện trong người đàn ông ấy? Trongmột gia đình như gia đình vợ chồng làng chài, những đứa trẻ như chị của Phác, cậubé Phác lớn lên và sẽ thành người như thế nào? Những người nghệ sĩ như Phùng,những nhà quản lí xã hội như Đẩu sẽ làm gì để cuộc sống bớt đi những mảnh đờinhư vậy?Cốt truyện của tác phẩm rất sáng tạo và độc đáo. Những tình huống chứa đầy sựnghịch lí Một trưởng phòng muốn có tờ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” nhưng thực tếvẫn có hình ảnh con người. Một người nghệ sĩ chụp được bức ảnh tuyệt đẹp thìchính trong đó lại chứa những cái xấu ác. Một người đàn bà bị chồng đánh dã mannhưng không bao giờ muốn từ bỏ lão. Những nghịch lí đó vẫn tồn tại trong cuộcđời như nói lên một triết lí sâu sắc “Cuộc sống không hề đơn giản mà phức tạp,không dễ gì khám phá. Người nghệ sỹ phải có cái nhìn đa diện nhiều chiều khiphản ánh cuộc sống.”Người kể chuyện là sự hóa thân của tác giả vào nhân vật Phùng đã tạo ra một điểmnhìn trần thuật sắc sảo. Lời kể trở nên khách quan, chân thật giàu sức thuyết ngữ nhân vật phù hợp với đặc điểm tính cách của từng người Giọng lão đànông thô bỉ, lời người đàn bà xót xa cam chịu…Việc sử dụng ngôn ngữ sáng tạo đãgóp phần khắc sâu hơn chủ đề, tư tưởng của tác ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện một bài học đúng đắn về cách nhìnnhận cuộc sống và con người Mỗi người trong cõi đời, nhất là người nghệ sĩ,không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận cuộc sống và con người. Cần một cáchnhìn đa dạng nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiệntượng. Đồng thời tác phẩm in đậm phong cách tự sự - triết lý của nhà văn NguyễnMinh Minh Châu còn có tài tạo dựng tình huống truyện để người đọc nhậnthức và khám phá vấn đề mới mẻ trong những tình huống nghịch lý để ta nhận ratriết lý của con người đời “Bến quê” nhân vật Nhĩ là người đã từng đặt chân đến mọi ngóc ngách, đikhắp mọi nơi trên thế giới vậy mà đến cuối đời Nhĩ nhận ra mình chưa từng đặttrên lên bãi bồi bên kia sông, hiện tại Nhĩ không thể nào thực hiện được mơ ước đónữa. Qua nghịch lý ấy nhà văn muốn để cho người đọc suy ngẫm về cuộc sống vàsố phận con người luôn chứa đựng những điều bất thường, những nghịch lý vượtqua ngoài dự định, ước muốn. Cuộc đời con người thường khó tránh khỏi nhữngđiều vòng vèo nhất là khi còn trẻ chỉ khi đã từng trải hoặc ở cảnh ngộ khác thườngnào đó người ta mới nhận thức được những giá trị đích thực của cuộc sống, nhữnggiá trị giản dị mà lại gần gũi quanh ta. Nhưng thường khi nhận thức được điều đócon người thường không còn mấy thời gian và sức lực để đạt tới trong “Chiếc thuyền ngoài xa” là vẻ đẹp của chiếc thuyền trong buổi sáng mờsương nhưng sau cảnh đẹp đó là cuộc sống của con người cơ cực. Đó là người đànbà bị chồng đánh, đứa con trai vì thương mẹ nên đánh lại cha. Cái đẹp của nghệthuật không chỉ là cái đẹp thuần túy mà còn là cái đẹp gắn với hiện thực, gắn vớicuộc sống của con đó ta thấy Nguyễn Minh Châu là một nhà văn với cái nhìn đa diện, nhiều chiềuvề cuộc sống cũng như cuộc đời của mỗi con người ở nhiều phương diện những truyện ngắn viết về đề tài thế sự, Nguyễn Minh Châu thể hiệngiọng điệu đa thanh cùng với đó là những hình ảnh biểu tượng đa nghĩa. Nếu nhưtrước năm 1975 giọng điệu trong văn học chủ yếu là giọng điệu ngợi ca, thì saunăm 1975 giọng điệu trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu phức tạp hơn, lúcchân tình, lúc suồng sã khi lại hài hước, kín đáo. Ông đã sáng tạo ra những biểutượng đa nghĩa như “Chiếc thuyền ngoài xa”.Qua đề tài thế sự trong một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ta thấyquan niệm về con người của ông cũng có sự thay đổi. Con người hoàn hảo, conngười lý tưởng không còn nữa mà thay vào đó là cái nhìn nhiều chiều về con dụ nhân vật lão Khúng, nhân vật Quỳ, nhân vật người họa sỹ…C. KẾT LUẬNĐúng với mệnh danh là “một trong số những người mở đường tinh anh và tàinăng nhất” của nền văn học Việt Nam hiện đại. Qua những tác phẩm của mình saunăm 1975, Nguyễn Minh Châu đã mang đến cho chúng ta một cái nhìn đa chiều vềcuộc sống con người sau chiến tranh. Đó là bức tranh cuộc đời nhiều màu, nhiềusắc thái, nhiều gam màu tối sáng khác nhau. Những câu chuyện rất bình thườngnhưng ẩn sau đó là những bài học nhân sinh sâu sắc. Những nghịch lý của cuộc đời,những góc khuất của nó, những số phận con người hay những chiêm nghiệm củanhân vật cũng chính là chiêm nghiệm của tác giả. Tất cả đã được Nguyễn MinhChâu xây dựng trong những tác phẩm viết về đề tài thế sự sau năm 1975 – Mộtbước chuyển mình của thời liệu tham Hồng Mây và cộng sự, 2004. Từ điển Tiếng Việt. Nhà xuất bản thống Lê Bá Hán và cộng sự, 2009. Từ điển thuật ngữ Văn học. Nhà xuất bản Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành tập truyện, NXB Tác phẩm mới, 19835. Bến quê tập truyện, NXB Tác phẩm mới, Tôn Phương Lan và Lại Nguyên Ân, Nguyễn Minh Châu- con người và tácphẩm, NXB Hội Nhà văn, H, Nguyễn Văn Long, Giáo trình Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Támnăm 1945, NXB Đại học sư phạm, Đào Thủy Nguyên chủ biên- Bùi Huy Quảng, Giáo trình Văn học Việt Namhiện đại, NXB Giáo dục Việt Nam.
1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠMKHOA NGỮ VĂN--NGUYỄN THỊ THU HÀHiện thực cuộc sống trong truyện ngắn LêMinh Khuê sau 1975KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2MỞ ĐẦU1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀISau 1975, đặc biệt là sau 1986, đời sống văn học Việt Nam có nhiều thayđổi. Sự chuyển tiếp từ thời chiến sang thời bình với những quy luật của nó, sựảnh hưởng của công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng, cùng những vấn đềbức thiết nổi lên trong lịch sử dân tộc thời hậu chiến,… là nguyên nhân cơbản dẫn đến sự thay đổi của văn học. Văn học bước sang một chặng đườngmới với những chuyển biến tích cực trên nhiều phương bức tranh chung ấy, cùng với sự khởi sắc của tiểu thuyết và kí,truyện ngắn cũng đang có bước đột phá về nghệ thuật. Xuất hiện hàng loạtcây bút nữ năng động như Võ Thị Hảo, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Ấm, NguyễnThị Thu Huệ, Phạm Thị Hoài…mỗi người một phong cách, một nét vẽ, cùnggóp phần làm sinh động hơn, phong phú hơn bức tranh truyện ngắn đươngđại. Lê Minh Khuê là một trong những nhà văn nữ để lại dấu ấn khá đậmtrong làng truyện ngắn sau 1975. Chị để lại ấn tượng bởi một lối viết sắc sảo,chân thực, khách quan, đôi khi lạnh lùng và suồng sã. Chị quan tâm nhiều hơnđến những trăn trở, băn khoăn về số phận con người, thâm nhập sâu hơn vào 3những vùng hiện thực chưa được khai phá. Với bản lĩnh của người cầm bút,với tâm huyết và sự say mê nghề nghiệp, Lê Minh Khuê đã tìm được vị tríxứng đáng trên văn đàn Việt nghiên cứu đề tài Hiện thực cuộc sống trong truyện ngắn LêMinh Khuê sau 1975 chúng tơi hi vọng góp thêm một góc nhìn đối vớitruyện ngắn Lê Minh Khuê cũng như định vị được vai trị, vị trí của cây búttruyện ngắn này trong dòng chảy truyện ngắn đương LỊCH SỬ VẤN ĐỀLà một nhà văn, nhà báo năng động và nhạy cảm, ngịi bút Lê MinhKh sớm thích ứng với thời cuộc. Nếu trước 1975, những trang văn đẹp củachị là những trang viết sống động về chiến tranh, về huyền thoại người línhthì sau 1975 những sáng tác hấp dẫn, để lại dư ba là những tác phẩm mạnhdạn chạm đến những vấn đề gai góc của cuộc sống đời thường. Cuộc sốngthời hậu chiến ngổn ngang, bề bộn là mảnh đất màu mỡ để ngòi bút của chịthăng hoa. Chị viết nhiều. Sau khi khởi động bằng tập truyện ngắn Đoạn kết1981, chị tiếp tục tăng tốc với Một chiều xa thành phố 1987, Bi kịch nhỏ1993, Lê Minh Khuê – truyện ngắn 1994, Trong làn gió heo may 1999,Màu xanh man trá 2006, Một mình qua đường 2006, Những ngơi sao,trái đất, dịng sơng 2009 …Truyện ngắn của chị dành được sự quan tâm đặcbiệt của bạn đọc và các nhà nghiên Thị Đức Hạnh trong bài viết Lê Minh Khuê ngòi bút truyện ngắnsung sức nhận xét “Lê Minh Khuê là một cây bút nữ có nhiều đóng góp vềtruyện ngắn. Từ hồn nhiên trong trẻo đến sắc sảo, nghiêm ngặt, chị ln cóchất giọng riêng…Việc đổi mới bút pháp trong những năm gần đây là dấuhiệu đáng mừng. Lê Minh Khuê là một trong những cây bút đầy tài năng vàrất sung sức”.[7] 4Là người viết nghiên cứu và phê bình già dặn, nhiều kinh nghiệm, BùiViệt Thắng khi bàn về truyện ngắn Lê Minh Khuê cũng đã nhận định “LêMinh Khuê là một nhà văn có phong cách độc đáo”, sử dụng nhiều giọngđiệu khác nhau. Nhưng về cơ bản Lê Minh Kh có những giọng chính“Giọng điệu trữ tình, giọng hài hước, giễu nhại, giọng lo âu” [19]Còn trong bài Ấn tượng Lê Minh Khuê, Bùi Việt Thắng cho rằng “Cónhững nhà văn viết một cách bình thường về những điều khác thường. Có nhàvăn khác lại lấy giọng khác thường để kể về những điều bình thường. B abenkể về những điều khác thường một cách cũng rất khác thường. Lê Minh Khuêtheo tôi nghĩ thuộc kiểu nhà văn thứ nhất như lời của [20].Cũng bàn về giọng điệu, trong bài Lê Minh Khuê một cốt cách vănchương, Vũ Hà viết “giọng văn của chị là một “giọng văn đẹp và trangnghiêm, khiến độc giả không thể không suy ngẫm, trái tim không ngủ yên” [5].Vượt qua phạm vi đánh giá về một mặt riêng lẻ, hoặc những nhận xét cótính chất khái lược về một tác phẩm cụ thể, Hồ Anh Thái trong bài viết LêMinh Khuê – người đàn bà “viễn thị” đã giúp người đọc có cái nhìn tồndiện hơn về con người cũng như sáng tác của cạnh các nhận xét, đánh giá cao về truyện ngắn Lê Minh Khuê, cònmột vài ý kiến ngược chiều tỏ ra nghi ngờ những vấn đề mà Lê Minh Khuêđặt ra trong tác phẩm. Trong bài Bi kịch nhỏ là một truyện ngắn khôngtrung thực đăng trên Báo Sài Gịn Giải Phóng Chủ nhật ngày 5/9/1993,Trung Nguyễn cho rằng “Bi kịch nhỏ là không trung thực. Dụng ý bơi đenbóp méo sự thật của tác giả thật rõ ràng” .Ngoài những nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu, mười năm gầnđây truyện ngắn Lê Minh Khuê cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của sinhviên, học viên cao học tại các trường đại học. Trong luận văn Thạc sĩ Đặcsắc truyện ngắn Lê Minh Khuê, tác giả Nguyễn Thị Đạm Đại học Vinh đã 5khẳng định vị trí và những đóng góp của Lê Minh Khuê trong văn xuôi đươngđại. Luận văn cũng đã chỉ ra những nét đặc sắc của truyện ngắn Lê MinhKhuê trên phương diện kết cấu và giọng điệu. Tuy nhiên, do đề tài khá rộng,phủ hết toàn bộ sáng tác của Lê Minh Khuê trước và sau 1975 nên nhìn chungcịn khái qt, chưa đi sâu vào từng phương diện cụ thể trong sáng tác của luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mai Đại học sư phạm ĐàNẵng chú ý đến Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Lê Minh luận tập trung nghiên cứu các phương diện Nhân vật trần thuật, điểmnhìn trần thuật, ngơn ngữ trần thuật, giọng điệu trần chung, các bài viết, các nghiên cứu trên bước đầu cũng đã khai vỡđược một số phương diện của truyện ngắn Lê Minh Khuê, đặc biệt nghệ thuậttrần thuật – một bước tiến về mặt nghệ thuật của Lê Minh Khuê được nhiềunghiên cứu quan tâm. Tiếp cận các nghiên cứu trên, chúng tôi chọn nghiêncứu đề tài Hiện thực cuộc sống trong truyện ngắn Lê Minh Khuê sau 1975hy vọng đem đến cái nhìn tương đối tồn diện về truyện ngắn Lê Minh Khuê,trên cơ sở đó đánh giá những đóng góp của chị đối với tiến trình vận động củatruyện ngắn đương ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN Đối tượng nghiên cứuĐối tượng khảo sát chính của đề tài là 4 tập truyện ngắn của Lê MinhKhuê Bi kịch nhỏ Nxb Hội nhà văn, 1993; Màu xanh man trá Nxb Phụnữ, 2006; Một mình qua đường Nxb Phụ nữ, 2006; Những ngơi sao, tráiđất, dịng sơng Nxb Phụ nữ, 2009. Ngồi ra đề tài cịn tham khảo một sốtruyện ngắn trước 1975 của Lê Minh Khuê để vận dụng trong quá trình sosánh, đối Phạm vi nghiên cứu 6Với đề tài này, khóa luận tập trung nghiên cứu bức tranh hiện thựctrong truyện ngắn Lê Minh Khuê sau 1975 và các phương thức biểu hiện đặcsắc như nhân vật trần thuật, kết cấu và giọng PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUThực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau- Phương pháp thống kê- Phương pháp đối chiếu – so sánh- Phương pháp phân tích – tổng hợp5. BỐ CỤC KHĨA LUẬNNgồi phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận cấu trúc gồm 3 chươngChương 1 Truyện ngắn Lê Minh Khuê trong tiến trình truyện ngắn sau 1975Chương 2 Truyện ngắn Lê Minh Khuê sau 1975 – bức tranh hiện thực nhiềumàu sắcChương 3 Phương thức biểu hiện hiện thực cuộc sống trong truyện ngắn LêMinh Khuê sau 1975 7 8Chương 1TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ TRONG TIẾN TRÌNHTRUYỆN NGẮN SAU LÊ MINH KHUÊ - NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG ĐỜI, NHỮNG CHẶNGĐƯỜNG Những chặng đường đờiCuộc đời là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hành trìnhsáng tạo văn chương của nhà văn. Từ cuộc đời người đọc có thể tìm thấy sựđồng cảm, tri âm cũng như chân dung, quan niệm văn chương của chính tácgiả. Đối với Lê Minh Khuê, mỗi chặng đường đời in dấu rất rõ trong hànhtrình sáng tạo nghệ thuật của Minh Khuê tên khai sinh là Lê Thị Minh Khuê, sinh ngày 6 tháng 12năm 1949, tại xã An Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Lê Minh Khuê mồcôi cha mẹ từ rất sớm, lớn lên trong sự cưu mang, đùm bọc của chú và chú u thích văn học Pháp, sách vở của ơng đã mở ra trong tâm hồncô bé một thế giới mới, ươm mầm hạt giống văn chương đầu tiên trong LêMinh 1965, chiến tranh diễn ra vô cùng ác liệt, cô gái tỉnh Thanh chưađầy 16 tuổi rời ghế nhà trường, tham gia kháng chiến. Những tháng năm giankhổ, đối đầu với bom rơi, đạn nổ khốc liệt suốt ngày đêm trên tuyến đườngHồ Chí Minh lịch sử, cơ gái đầy mẫn cảm ấy đã tận mắt chứng kiến sự khốcliệt của chiến tranh, lặng lẽ khóc bên những nấm mộ đồng đội ngã xuống,nhiều đêm mất ngủ, trăn trở, suy nghĩ về chiến tranh, về đất nước, con những năm tháng gian khổ đầy thử thách ấy là nguồn cảm xúc dồi dàotrong những sáng tác sau này của nhà văn. 9Năm 1967, chị bị thương và điều trị tại quân y viện. Với lòng say mê văn họccùng sự động viên của nhiều người, Lê Minh Khuê bắt đầu viết và lần lượt cho rađời những bài ghi chép, phóng sự, truyện ngắn dưới bút danh Vũ Thị 1969 chị được chuyển về làm phóng viên báo Tiền Phong, đếnnăm 1973 chị đi B. Đây cũng là thời gian chị làm phóng viên của đài truyềnhình Việt Nam 1973 – 1977. Công việc thông tấn gấp gáp dường như khơngthích hợp với tố chất của chị. Năm 1978 Lê Minh Khuê chuyển sang làm biêntập viên của nhà xuất bản Hội nhà nay, đã nghỉ hưu nhưng chị vẫn được tín nhiệm đảm trách cươngvị Chủ tịch hội đồng văn xi của Hội nhà văn Hà Nội, Phó chủ tịch hội đồngvăn xuôi Hội nhà văn Việt Nam. Và điều đáng ghi nhận hơn cả, con ngườicủa công việc không bao giờ ngừng nghỉ trong chị, vừa làm việc Lê MinhKhuê vừa sáng tác, các tác phẩm của chị vừa ra đời đã được sự đón đọc nồngnhiệt của nhiều thế hệ bạn Những chặng đường vănKhai sinh đứa con đầu lòng Bức tranh in trên báo Văn nghệ năm 1971,kí tên Vũ Thị Miền, Lê Minh Khuê tỏ ra là một cây bút có duyên với truyệnngắn. Từ những bước đi đầu tiên đến với văn chương và dần hiện lên rõ nétqua từng trang viết, ngịi bút của chị càng viết càng chín. Chặng đường văncủa chị là một quá trình phát triển liên tục, đều đặn, trải dài trên cả hai mốcthời gian trước và sau 1975, để cổ vũ cho tinh thần chiến đấu của tồn dân tộc, ngịi bútLê Minh Kh chủ yếu hướng vào đề tài chiến tranh, ca ngợi những conngười đang chiến đấu ngoài mặt trận, những con người đặt lợi ích chung củađất nước lên trên quyền lợi cá nhân, sẵn sàng hi sinh cái tôi cũng như mọiquyền lợi chính đáng để chung tay góp sức vào cuộc kháng chiến bảo vệ tổquốc. Các nhân vật của chị được đặt trong các cao điểm bom đạn, ranh giới 10giữa sự sống và cái chết rất mong manh, nhưng tất cả không làm vơi đi nhiệthuyết của tuổi trẻ, họ sẵn sàng chấp chặng thứ nhất này Lê Minh Khuê đã sáng tác tất cả 12 truyện gồmCon sáo nhỏ của tôi, Bạn bè tôi, Nơi bắt đầu những bức tranh, Những ngôisao xa xôi, Cao điểm mùa hạ, Mẹ, Tình u người lính, Con trai của nhữngngười chiến sĩ, Bình minh ven biển, Chuyện nhỏ hồi chiến tranh và haitruyện cuối cuộc chiến Anh kĩ sư dạo trước, Bầu trời trong xanh. Trong số12 truyện đó, ngồi 10 truyện đầu tác giả xây dựng nhân vật theo mơ hình lýtưởng của văn học thời chiến, 2 truyện sáng tác cuối cuộc chiến có sự thay đổivề nghệ thuật xây dựng nhân vật, báo hiệu cho sự vận động trong cái nhìncũng như bút pháp của nhà văn trên con đường văn nghiệp của sang chặng thứ hai, ngòi bút Lê Minh Khuê càng sung sức. Mộtloạt truyện ngắn ra đời trong sự nỗ lực đổi mới của chị. Tuy nhiên, một số tácphẩm vẫn còn dấu ấn của phong cách sáng tác trước 1975. Nhưng đến khi tậptruyện ngắn Một chiều xa thành phố 1987, tập truyện ngắn được giảithưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 1987 xuất hiện thì truyện ngắn LêMinh Khuê thực sự chuyển hướng. Sau tập Một chiều xa thành phố 1987 làsự kế tiếp của Bi kịch nhỏ 1993, Lê Minh Khuê – truyện ngắn 1994,Trong làn gió heo may 1999, Màu xanh man trá 2006, Một mình quađường 2006, Những ngơi sao, trái đất, dịng sơng 2009.Với quan niệm “Văn chương phải là văn chương. Người viết không nênkể sống sít cho xong một câu chuyện, một tâm trạng mà khơng bộc lộ được ýtưởng chính. Đã viết văn, thì cần phải cẩn thận từng dấu chấm, dấu phẩy, cáchdùng từ, cách diễn đạt cảm xúc”, các tác phẩm của Lê Minh Khuê ngày càng thuhút được đông đảo bạn đọc trên nhiều vùng miền tổ quốc. Bên cạnh giải thưởngcủa Tạp chí Văn nghệ Quân đội Bi kịch nhỏ, giải thưởng của Hội nhà vănMột chiều xa thành phố, Trong làn gió heo may, tháng 4 năm 2008 với tập 11truyện ngắn Những ngơi sao, trái đất, dịng sơng chị đã nhận được giải thưởngvăn học quốc tế của Hàn Quốc mang tên văn hào Byeong – Ju một cách tổng quan hai chặng đường sáng tác của Lê Minh Kh,có thể thấy chị xứng đáng được tơn vinh là cây bút truyện ngắn xuất sắc trongdòng văn học đương đại Việt Nam. Chín tập truyện ngắn được sáng tác tronghai giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn tập trung vào một mảng đề tài cụ thểvà sự thay đổi khơng ngừng về bút pháp. Đó là những nỗ lực của Lê MinhKhuê trên hành trình sáng TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ TRONG DÒNG CHẢYTRUYỆN NGẮN SAU Vài phác thảo về bức tranh truyện ngắn sau 1975Bước ra khỏi cuộc chiến tranh với tâm thế của người thắng cuộc, thếnhưng chúng ta lại vấp phải vô vàn khó khăn khi bắt tay vào cơng cuộc xâydựng và bảo vệ tổ quốc. Với những di chứng đau thương cịn sót lại của chiếntranh cộng thêm vào đó là sự bất cập của cơ chế bao cấp lạc hậu đã đặt ra yêucầu cấp thiết cho Đảng và nhà nước ta, là cần phải có một đường lối đổi mớiphù hợp với nhu cầu phát triển của đất hội Đảng lần thứ VI 12/1986 là mốc đánh dấu sự chuyển mìnhcủa xã hội Việt Nam, mở ra thời kì mới đưa đất nước phát triển theo conđường cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa. Hịa chung vào khơng khí đổi mới củađất nước, văn học đã có sự chuyển mình và phát triển trên nhiều phương cạnh những đổi mới về nội dung và nghệ thuật; sự cách tân về mặt thểloại cũng là bước tiến đáng kể của văn học thời kì này. Cùng với tiểu thuyếtvà kí, truyện ngắn đã gặt hái được nhiều thành công. Không những phong phúvề nội dung, đề tài, truyện ngắn còn đạt đến độ kết tinh về mặt nghệ biệt có độ lùi nhất định về thời gian, truyện ngắn có điều kiện suy ngẫm,chiêm ngiệm về những vấn đề đã và đang xảy ra sâu sắc và chín chắn hơn. 12Bàn về sự đổi mới của truyện ngắn sau 1975, không thể không nhắcđến sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người. Nếu truyện ngắntrước 1975 khám phá con người dưới ánh sáng của lý tưởng và cảm hứng sửthi, thì truyện ngắn sau 1975 đã đi sâu vào đời sống nội tâm, để cảm nhậnnhững suy tư thầm kín, những nỗi niềm trắc ẩn của con người. Con ngườiđược khai thác ở nhiều bình diện, trong nhiều mối quan hệ đan xen, chồngchéo, đặc biệt đời sống tâm linh, vẻ đẹp phồn thực của cuộc đời trần thế, tìnhyêu, tình dục đã được truyện ngắn mạnh dạn tiệm cận. Truyện ngắn giai đoạnnày xuất hiện nhiều kiểu nhân vật mới mà trước đây chưa có như nhân vậtsám hối, nhân vật cô đơn, nhân vật bản năng. Các kiểu nhân vật này có thể bắtgặp trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, MaVăn Kháng, Võ Thị Hảo…Bên cạnh sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người, truyệnngắn sau 1975 cịn có nhiều cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân xây dựng nhân vật trong truyện ngắn bây giờ khơng cịn là xây dựngnhân vật điển hình trong hồn cảnh điển hình, tiêu biểu cho một xã hội, mộtgiai cấp nhất định như trước nữa. Sau 1975 với sự phát triển của đời sốngmới, kéo theo đó là bao bộn bề, lo toan của cuộc sống thường ngày đã tácđộng mạnh mẽ đến đời sống văn học. Cuộc sống thời hậu chiến là một thếgiới sống động, đa chiều, đa diện được tạo nên bởi những mảng hiện thực đadạng, nhiều gam màu. Và con người trong văn học hôm nay không phải đơnphiến, đơn trị như trước mà thay vào đó là con người đa chiều, lưỡng diện vớinhiều giá trị khác nhau nhân cách và phi nhân cách, ý thức và vô ý thức, khátvọng cao thượng và dục vọng thấp hèn…Truyện ngắn giai đoạn này cịn có sự cách tân về mặt kết cấu. Nếu nhưtrước đây, truyện ngắn chủ yếu được xây dựng theo kiểu kết đơn tuyến, diễnbiến sự kiện theo mạch thời gian thì kết cấu truyện ngắn sau 1975 đã có sự 13biến hóa, xuất hiện cốt truyện phân mảnh, lắp ghép. Và các mảnh ghép khơngcịn được mơ tả theo trật tự tuyến tính, mà được phục dựng thơng qua thủpháp hồi tưởng, ghép nối, cắt dán khá mới lạ. Kết thúc truyện ngắn cũng khábất ngờ và ấn tượng. Hầu hết truyện ngắn sử dụng kiểu kết cấu mở - bỏ ngỏvấn đề, sự kiện tạo cơ hội để người đọc cùng đối thoại, cùng tranh 1975, truyện ngắn tiếp cận hiện thực ở cự li gần bằng thái độ thânmật, suồng sã, vì vậy mà ngơn ngữ, giọng điệu trong truyện ngắn giai đoạnnày mang đậm tính khẩu ngữ. Ngơn ngữ khơng cịn mang tính chất hoa mĩ,trang trọng như trước đây, thay vào đó là lớp ngơn ngữ mộc mạc, giản dị, gầngũi với cuộc sống đời thường. Sự cách tân về mặt giọng điệu cũng là điểmmới đáng ghi nhận của truyện ngắn. Nếu như truyện ngắn trước 1975 nổi lênvới giọng ngợi ca đậm chất sử thi thì truyện ngắn sau 1975 thật sự sinh độngvới sự kết hợp, hòa phối bởi nhiều kiểu giọng giọng phấn chấn, ngợi ca;giọng hài hước, châm biếm; giọng trầm tư, xúc cảm; giọng chiêm nghiệm,triết lý. Có thể nói, đây là một trong những yếu tố làm nên thành công củatruyện ngắn sau 1975, đưa truyện ngắn đến gần với bạn lại chặng đường phát triển của truyện ngắn, có thể thấy hơn bamươi năm khơng ngừng vận động và chuyển biến, truyện ngắn đã có nhữngbước tiến dài về mặt nghệ thuật đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người,về kỉ thuật xây dựng nhân vật, về kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu…tất cả đemlại cho truyện ngắn một diện mạo mới, hấp dẫn người đọc như nhà vănNguyễn Minh Châu từng nhận “Chỉ cần ít trang văn xi mà họ có thể làmnổ tung trong tình cảm và ý nghĩ người đọc những điều rất xa và da diết củacon người, khiến người đọc phải nhớ mãi, suy nghĩ mãi, đọc đi đọc lại vẫnkhông thấy chán”. Lê Minh Khuê – cây bút truyện ngắn sắc sảoBước chân vào làng văn từ rất sớm, Lê Minh Khuê đã khẳng định vị trítrên văn đàn. Được ươm mầm văn chương từ nhỏ bởi người chú say mê vănhọc Pháp, cộng thêm vào đó là cuộc đời đầy trải nghiệm của một chiến sĩ thanhniên xung phong, Lê Minh Kh đã có một hành trình sáng tạo nghệ thuật rấtphong phú và đa dạng. Chặng đường văn của chị trải dài trên cả hai mốc thờigian đánh dấu sự chuyển mình của văn học dân tộc trước và sau 1975, người đọc tìm thấy trong những trang văn của Lê Minh Khuêhình ảnh của một nhà văn đồng thời là một người chiến sĩ, dùng văn chương đểphục vụ nhiệm vụ chính trị và cổ vũ tinh thần chiến đấu của dân tộc. Đọc tácphẩm Lê Minh Khuê giai đoạn này người đọc sẽ bắt gặp một Lê Minh Khuênăng động dấn thân trên các nẻo đường, trên các mặt trận ác liệt để kịp thời ghinhận những biến chuyển của cuộc kháng chiến, cũng như ngợi ca những conngười đặt lợi ích chung của đất nước lên trên quyền lợi cá nhân, sẵn sàng hi sinhquyền lợi cá nhân góp sức vào cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc. Nhìn chung,giai đoạn này, chị viết khơng nhiều song truyện ngắn của chị đã thể hiện nhữngkhám phá mới của một cây bút trẻ khao khát sáng tác và trải sang chặng đường thứ hai của hành trình sáng tạo nghệ thuật, ngịibút truyện ngắn Lê Minh Khuê có sự chuyển hướng rõ rệt. Chị quan tâm nhiềuhơn đến số phận con người, đi sâu vào khai thác nội tâm nhân vật kể cả miềnkhuất lấp, trắc ẩn. Đối tượng quan sát trong các tác phẩm của chị cũng đa dạng,phong phú hơn với đầy đủ thành phần từ trí thức, nghệ sĩ, quan chức cho đếntiểu thương, nông dân…, đặc biệt Lê Minh Khuê đã mạnh dạn khai phá nhữngvùng hiện thực phức tạp, đó là sự sa sút của nhân tính, của lịng vị tha, là sự giatăng của cái xấu, cái ác. Viết về cái ác, cái xấu, cái ti tiện, cái bất nhân, nhưngkhơng phải vì thế mà cho rằng nhà văn chán ghét cuộc sống. Viết về cái xấu lànhằm thức tỉnh con người, nhằm xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. 15Nếu như ở chặng thứ nhất, với khuynh hướng sử thi kết hợp với cảmhứng lãng mạn, Lê Minh Khuê khai thác con người ở vẻ đẹp cộng đồng, họ hầuhết là những chiến sĩ cách mạng, kết thúc truyện bao giờ cũng tươi sáng, trànđầy niềm lạc quan, tin tưởng, thì đến chặng thứ hai khuynh hướng sử thi đãđược thay thế bằng khuynh hướng phi sử thi hóa, con người được nhìn ở góccạnh đời tư thế sự, được nhìn nhiều chiều với đầy đủ các tính cách của conngười thực cạnh sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, truyện ngắn LêMinh Khuê cũng đang dần đạt được nhiều cách tân về mặt kết cấu. Nếu nhưtrước 1975 truyện ngắn của chị chủ yếu được xây dựng theo lối kết cấu đơntuyến, thì sau 1975 kết cấu truyện ngắn của chị biến hóa theo hướng hiện hết truyện ngắn của chị giai đoạn này có kết thúc khá bất ngờ, ấn cạnh đó, ngơn ngữ và giọng điệu cũng đạt được nhiều bước tiến đáng ghinhận. Ngơn ngữ mang tính chất trang trọng trước đây được thay thế bằng lớpngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần gũi với cuộc sống đời thường. Giọng điệu thìhấp dẫn, sinh động hơn bởi sự đan xen nhiều kiểu giọng giọng hài hước, giễunhại, giọng trữ tình thương cảm, giọng chiêm nghiệm, triết lý…Nhìn lại hành trình sáng tạo của Lê Minh Kh, có thể nhận xét chị làcây bút truyện ngắn sắc sảo. Mạnh dạn lao vào những vùng hiện thực nguyhiểm, mạnh dạn mổ xẻ bằng “lưỡi dao” sắc cạnh, truyện ngắn của chị thực sựđể lại dấu ấn trên dòng chảy truyện ngắn đương đại Việt Nam. 16Chương 2TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ SAU 1975 –BỨC TRANH HIỆN THỰC NHIỀU MÀU HIỆN THỰC NHÌN TỪ SỨC MẠNH ĐỒNG TIỀNTrong xã hội Truyện Kiều, đồng tiền mang trong mình sức mạnh tác quáighê gớm“Quan lại vì tiền mà bất chấp cơng lý; sai nha vì tiền mà tra tấn chacon Vương ông; Tú Bà, Mã Giám Sinh, Bạc Bà, Bạc Hạnh vì tiền mà làm nghềbn thịt bán người; Sở Khanh vì tiền mà tán tận lương tâm; Khuyển, Ưng vìtiền mà làm những điều đại ác. Cả một xã hội chạy theo đồng tiền. Đồng tiền cơhồ đã thành một thế lực vạn năng. Tài hoa, nhan sắc, tình nghĩa, nhân phẩm,cơng lý đều khơng có nghĩa lý gì trước thế lực của đồng tiền”.Trong thời đại ngày nay, đồng tiền càng khẳng định rõ hơn sức mạnh củanó. Đồng tiền khơng chỉ là nguồn lực của sự phát triển, nâng cao đời sống xãhội, mà đồng tiền còn làm đảo lộn cuộc sống, làm suy vi những giá trị đạo đức,làm mai một ý chí, nhân phẩm con người…Dường như, đồng tiền đang nghiễmnhiên trở thành một lực lượng vơ hình chi phối tồn bộ cuộc sống xã hội. Về sựthao túng của đồng tiền, có lẽ Lê Minh Khuê là nhà văn đã có nhiều thành côngnhất Đồng tiền và sự suy vi các giá trị đạo đức xã hộiĐến với tác phẩm của Lê Minh Khuê người đọc như bị lạc vào thếgiới đầy bí ẩn đằng sau mặt trái của đồng tiền. Tất cả các mối quan hệ thiêngliêng, huyết thống bấy lâu nay được trân trọng, gìn giữ giờ đây đang dần maimột bởi sự chi phối của đồng tiền. Nhân vật trong truyện ngắn Lê Minh Khuêsùng bái đồng tiền một cách thái quá. Họ sẵn sàng dẫm đạp lên tất cả miễnsao có tiền. Chém giết, xâu xé nhau vì tiền, có nhân vật đem đồng tiền ra làm 17trị đùa, có kẻ xem đồng tiền là mục tiêu của hành động…Dưới ngòi bút của LêMinh Khuê nhân vật như con thiêu thân lao vào vòng lợi danh của đồng trị đạo đức bị suy vi đến mức cực độ. Ma lực của đồng tiền đã làmcho máu đổ, anh em chém giết nhau, con âm mưu kiếm tiền từ thân xác củangười cha già, ngay cả những đứa trẻ ngây thơ mới lọt lòng mẹ cũng trở thànhmón hàng béo bở của người cha trong cơn thèm thuốc phiện…Khảo sát 4 tập truyện ngắn của chị, chúng tôi thấy nổi lên nhiều truyện ngắnphản ánh sự suy vi của các giá trị đạo đức truyền thống Đồng đơ la vĩ đại, Nhữngkẻ chờ sung, Anh lính Tơ – ny D, Kí sự những mảnh đời trong ngõ, Sân gôn…Đồng đô la vĩ đại là một trong những truyện ngắn thành công của LêMinh Khuê khi viết về mảng hiện thực này. Câu chuyện kể về đại gia đình lãoTrương, một mẫu gia đình điển hình cho sự hám tiền, chỉ trừ thằng Nghẽo dởngười khơng biết gì và cô Trang được xem là “ngôi sao lạ lạc vào bầu trờităm tối nhà lão Trương” còn lại từ con trai cho đến các nàng dâu đều mangtrong mình thói hám tiền. Chỉ vì 100 đơ la cơ Trang gửi về ni thằng Trọngmà gia đình lão Trương đã xảy ra một vụ án “kinh thiên động địa”. An đâmchết chị dâu và cái bào thai bảy tháng tuổi. Kết cục, An lĩnh án tử hình,Khang thì hóa điên. Đồng tiền có sức mạnh ghê gớm, nó làm cho con ngườimất hết lương tâm, mất hết nhân trong Đồng đô la vĩ đại người đọc được chứng kiến một cảnh tượng vôcùng ghê sợ, máu lạnh, với hành động nhẫn tâm đâm chết chị dâu và cái bào thaibảy tháng tuổi của An thì đến truyện ngắn Những kẻ chờ sung vợ chồng lão Têcũng là những kẻ bất nhân không kém. Hiện lên trong truyện ngắn là vợ chồng lãoTê và vợ chồng lão Tái, họ đều có chung một tâm lý chờ đợi, “há miệng chờsung”. Họ hờ hững trước tất cả, lúc nào cũng chỉ trông mong, ỷ lại và chờ đợi vậnmay đến với mình. Tình cảm anh em chỉ thức dậy trong lão Tê khi bức thư của côCành gửi về “Cậu Tê phải tìm cho được cậu Tái, rồi tơi sẽ mang tiền về cho hai 18cậu. Cố tìm nhau. Nếu khơng được thì tơi cũng chưa về và cũng chưa gửi tiền”[10, tr 158]. Vậy là cơng cuộc tìm kiếm người em thất lạc bấy lâu nay được lão Têtiến hành khẩn cấp. Đồng tiền có sức mạnh thật lớn lao, nó có thể đánh thức đượctình anh em bấy lâu nay được chơn vùi trong lịng lão Tê, một con người vốn vơtâm, dửng dưng với tất cả mọi thứ. Đồng tiền đã khiến cho cuộc gặp gỡ giữa haianh em lão Tê trở thành cuộc gặp gỡ định mệnh. Chỉ vì mấy cây vàng, lão Tê đãbất chấp tình máu mủ, sát hại em mình một cách vơ cùng tàn nhẫn. Đến cả nhữngchỉ vàng cuối cùng lão Tái thu ở vùng kín của cơ thể cũng bị lão Tê phát cơ hội lão Tái đang ngủ say thì lão Tê ra tay hành động, lão lấy gối chặnmũi, bóp bộ hạ gần như bị nát ra, khi đụng quần lão Tái nhầy nhụa một thứ nướcgì đó trộn lẫn với phân lão Tê mới bừng tỉnh. Độc ác, nhẫn tâm hơn để phi tangchứng cứ, lão đã cắt thân xác em mình ra làm nhiều mảnh rồi đem chơn xuốngnền nhà. Cái chết thê thảm của lão Tái cùng với bộ dạng điên khùng của lão Tê ởcuối truyện là hậu quả của những việc làm mất nhân tính, vơ lương tâm của conngười khi chạy theo ham muốn, dục vọng của đồng lực của đồng tiền trong truyện ngắn của Lê Minh Khuê thật quá khủngkhiếp. Lòng tham và sự độc ác, đã biến con người thành một con mãnh thú nhẫntâm sát hại cả những người thân cùng chung dịng máu với sống dường như đang bị đảo lộn bởi đồng tiền, tình cảm anh em máumủ đang ngày càng nhạt lạnh, thay vào đó là những án mạng. Bàn tay vơ hình củađồng tiền trong bóng tối như đang giăng lưới bủa vây, kìm tỏa con người trongvịng xốy của sự tham lam và độc ác. Phải chăng, Lê Minh Khuê đang cố hết sứcmình để kéo họ về phía ánh sáng mặt trời, ánh sáng của sự thức chung mạch đề tài này, truyện ngắn Anh lính Tơ – ny D người đọcđược chứng kiến một màn kịch gay cấn về sự đảo lộn tơn ti trật tự trong gia đìnhthì truyện ngắn Kí sự những mảnh đời trong ngõ lại mở ra trước mắt người đọcmột màn kịch “báo hiếu trả nghĩa cha” đầy kịch tính của vợ chồng lão Tó. Là 19một người có địa vị và một cơng ty hái ra tiền, thế nhưng lão Tó lại là một kẻ vơcùng tham tiền. Nhìn cái chết của cơ Tý câm và sự lên đời của mụ Tít – mẹ cơ Týsau khi được gã lai tây bồi thường mà lão khơng thể kìm nén lịng tham vơ hạncủa mình “mặt Tó trơng rất lạ. Cái gì đó vừa lóe lên như một phát kiến vĩ đại đếnvới ngài, mặt ngài rạng rỡ lên một phút” [11, tr 111]. Vợ chồng lão rắp tâm đemngười bố già yếu của mình ra nằm hóng mát ở lề đường mong thằng tây kia sayrượu chẹt chết để được nhận tiền bồi thường. Vợ chồng lão không ai bảo ai thầmnghĩ “Nhà này đã giàu rồi. Nhưng nếu được chục triệu như mụ Tít thì ai dámchê? Gì chứ mả nhà mình có phát, thằng tây say rượu có xồ vào ơng bố 90 nhàmình. Chục triệu mình khơng thèm. Phải hơn gấp đơi” [11, tr 113]. Sự đời thật trớtrêu, con cái đền công sinh thành của bố bằng cách cầu mong thằng tây say rượuchẹt chết bố mình để nhận tiền bồi thường. Bầu trời dường như bị bao phủ bởimột màu đen tối của đồng tiền, để rồi, đau đớn thay màn kịch khép lại với lời rủacủa vợ chồng lão Tó với thằng tây “Mẹ nó, sao dạo này nó đi đứng cẩn trọngthế?” [11, tr 115].Nếu như Kí sự những mảnh đời trong ngõ đưa người đọc đến với vợchồng lão Tó bất hiếu, mưu cầu tiền bạc từ thân xác ơng bố già 90 tuổi, thì ởtruyện ngắn Sân gôn người đọc lại bắt gặp Lanh, một ông bố mất hết nhân kiếm tiền bằng cách dụ dỗ con mình bán cho bọn bn người qua biên giớiđể thỏa mãn cơn thèm thuốc phiện. Tình phụ tử bị Lanh chối bỏ bằng một câu nóivơ cảm “tơi đang cần tiền mà”. Quan hệ trong gia đình đang đứng trên bờ vựcthẳm. Cuộc sống bây giờ khơng cịn là “môi hở răng lạnh”, “máu chảy ruộtmềm” nữa mà thay vào đó là sự lên ngơi và ngự trị của đồng những truyện ngắn này, Lê Minh Khuê như muốn gióng một hồichng cảnh tỉnh đến tồn xã hội hãy biết trân trọng gìn giữ và nâng niunhững mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình, hãy thốt khỏi vũng bùn của cănbệnh trông chờ ỷ lại, “há miệng chờ sung”. Con người cũng nên thay đổi 20cách suy nghĩ, nhìn nhận của mình về đồng tiền, đồng tiền khơng phải là tồnnăng mà ẩn chứa đằng sau nó là biết bao nguy hiểm, tội ác, đau thương có khiphải đổi bằng cả tính Đồng tiền và sự băng hoại lối sống của con ngườiKhông chỉ tác yêu tác quái, khởi nguồn cho những cuộc chiến đẫm máutrong gia đình, đồng tiền cịn tấn cơng làm đảo lộn đạo đức xã hội. Dưới malực hấp dẫn của đồng tiền, những lối sống đẹp đã mất dần thay vào đó là lốisống thực dụng, sùng bái đồng tiền, chạy theo vật chất, chạy theo dục vọng đểrồi dẫm đạp lên sự đau khổ của những người xung con mắt tinh tế của một nhà văn từng trải, Lê Minh Khuê đã soithấu vào những góc khuất của cuộc sống, chị nhận ra rằng trong cuộc đời nàybên cạnh những người tốt vẫn cịn khơng ít những kẻ lừa lọc, tham lam luônsống trong cái tôi cá nhân ích kỉ, nhỏ bé, thấp hèn. Đọc truyện ngắn của chịchúng ta không khỏi bức xúc trước nhân vật Phúc trong Trị chơi cờ bạc lntìm cách trục lợi gia sản, ham muốn giàu sang trong khi đó mình chỉ là mộtanh sinh viên nghèo, tri thức dở dang, lười nhác. Hay Đáng trong Xóm nhỏ,là một trí thức song lại mang trong mình bản chất của kẻ bất nhân, vơ đạođức. Vì đồng tiền, Đáng khơng ngần ngại đẩy bà cô đến cái chết trước tuổi đểcướp đi căn nhà, tiền của kiếm được từ mồ hôi, nước mắt của bà. Nhân vậtSánh trong Những ngày trở về tìm đủ mọi cách để có được những thứ màmình không đổ mồ hôi làm ra. Tất cả các nhân vật trên của Lê Minh Khuê đềulà những kẻ luôn chạy theo lối sống thực dụng, sẵn sàng đánh mất lịng tựtrọng của bản thân dừng lại ở lối sống thực dụng, nhân vật trong truyện ngắn LêMinh Khuê còn hiện ra với lối sống hám tiền, sùng bái đồng tiền để rồi giẫmđạp lên sự đau khổ của những người xung quanh. Trong Đồng tiền có màuxanh huyền ảo, Vĩnh luôn lấy đồng tiền ra giăng bẫy người khác, hắn cho 21rằng “thời buổi này chẳng có cơ nào khơng hợp gu với “đơ” cả?” . Cịn nhânvật Quang thì bảo rằng “cốt tiền là xong ngay”. Cả hai nhân vật này ai cũnghám tiền, sùng bái đồng tiền để rồi họ đã làm hỏng cuộc đời một người con gáihiền lành, trong trắng, có một tình u thủy chung, đáng trân trọng. Họ thảnnhiên, dửng dưng trước sự đau khổ của người khác, nhẫn tâm hơn họ cịn xemđó là thú vui để giải trí qua ngày. Nhân vật Phúc trong Trò chơi cờ bạc, mụctiêu của hắn là tiền và địa vị, hắn đã không ngần ngại bỏ cô bạn gái cưu manghắn lúc hoạn nạn, khó khăn để tìm cách chen chân vào thế giới thượng cạnh những mẫu người sùng bái vật chất, trong truyện ngắn LêMinh Kh cũng có khơng ít những kẻ chạy theo chủ nghĩa cá nhân ích kỉ. Đólà hai đứa con gái của ơng Lăng trong Ga xép, vì tiền chúng đã bỏ mặc ngườicha hết lòng yêu thương trong một ngôi nhà vắng lạnh. Hai đứa con gái lãoluôn nghĩ rằng hạnh phúc là được sống trong nhà cao cửa đẹp, trong sự giàusang phú quý, song chúng không hề hiểu tình thương u, sự quan tâm, chămsóc của con người mới là quan trọng. Những đứa con ông Lăng là hiện thâncủa lối sống ích kỉ, chỉ biết bản thân mình, quên đi đạo hiếu, trách nhiệm vàbổn phận làm con. Ngoài ra, dưới sức hút của đồng tiền cũng có khơng ítngười đang dần mất đi tinh thần trách nhiệm, vô cảm, thờ ơ trước hiện thựcđang xảy ra quanh mình. Quang Nguyên trong truyện ngắn Anh kĩ sư dạotrước, trước kia vốn là một người có tấm lịng dũng cảm, khơng ngại giankhổ, vất vả vượt qua mọi khó khăn, thế nhưng sau khi quay về với cuộc sốngđời thường anh trở nên là một con người dửng dưng, thờ ơ với mọi thứ xungquanh. Hay trong Bầu trời trong xanh, Ninh – một nữ phóng viên trên mặttrận, đã từng lăn lộn, xông pha đầy nhiệt huyết trên chiến trường, thế nhưngsau này cô đã đánh mất bản thân mình. Dường như cả Quang Nguyên và Ninhđều là những người thiếu bản lĩnh, thiếu sự vững vàng trước vịng xốy củacuộc đời và sự cám dỗ của cuộc sống phù hoa. Sự thay đổi, biến chất của họ 22một phần do sự tác động của hiện thực cuộc sống, một phần bắt nguồn từ sựích kỉ của cá nhân, để rồi họ buông xuôi tất cả, trở thành những con ngườibàng quan, sống thiếu trách qua truyện ngắn, Lê Minh Khuê đã mở ra trước mắt người đọc cảmột không gian xã hội rộng lớn với rất loại người và lối sống khác nhau. Tất cảhọ đều bị đồng tiền lôi cuốn, làm băng hoại, làm thay đổi con người và lốisống. Mỗi truyện như một bài học, một lời khuyên răn thức tỉnh con người, hãybiết giữ lấy thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc, hãy để tình yêuthương dẫn lối hành vi, để có một lối sống đẹp – nhân văn hơn, người hơn. Đóchính là thơng điệp mà Lê Minh Kh gửi gắm đến bạn đọc thơng qua các tácphẩm của HIỆN THỰC NHÌN TỪ CHÂN DUNG NHỮNG CON NGƯỜI THA HĨACuộc sống thay đổi, góc nhìn hiện thực của các nhà văn cũng có sự đổikhác. Nhà văn bây giờ đang dần mở rộng biên độ hiện thực trong các tácphẩm của mình. Họ đi sâu hơn vào những miền ẩn khuất sâu thẳm của đờisống nội tâm, lắng nghe những tâm tư, khát vọng của con người. Họ mạnhdạn phơi trần những mặt trái của cuộc sống với đầy rẫy những mâu thuẩn,những bi kịch. Đọc truyện ngắn Lê Minh Khuê, chúng ta không khỏi ngạcnhiên trước chân dung những con người đang ngày càng trượt dài trên conđường của sự tha Chân dung người trí thứcNếu như người trí thức trong tác phẩm của Nam Cao “sống mịn” vì cuộcsống vật chất, thiếu túng thì người trí thức trong truyện ngắn Lê Minh Kh“chết mịn” khơng chỉ bởi gánh nặng cơm áo gạo tiền mà còn bởi sự tụt hậu,thiếu bản lĩnh, thiếu hiểu biết. Viết về người trí thức, Lê Minh Kh đi sâu vàoviệc nhìn nhận, đánh giá đối tượng trên nhiều phương diện như nghề nghiệp 23chun mơn, văn hóa ứng xử. Có thể nói, đây là một mảng hiện thực được LêMinh Khuê dành rất nhiều thời gian, công sức cũng như số lượng tác bật trong mảng hiện thực này là truyện ngắn Thân phận cu li. Tácphẩm viết về ơng giáo Trí, một người luôn tự mãn về kiến thức và sự xuấtthân của mình. Nắm trong tay ba bằng đại học thế nhưng cả cuộc đời mìnhơng khơng thể nào phát huy được đống chữ nghĩa đó. Cơng việc vĩ đại củaơng là cả ngày ngồi tính tốn chi tiêu như thế nào cho vừa đồng lương, tìmcách đối phó như thế nào với cái dạ dày. Thế nhưng, ông vẫn khơng ý thứcđược tấn bi kịch của cuộc đời mình mà ln tự xem mình là số một, hơn tấtthảy mọi người, ơng ln nghĩ “trên đời thật khó có ai có thể sánh với ơng”.Nếu như ơng giáo Trí được khai thác ở khía cạnh một trí thức lạc hậu, tựthỏa mãn về kiến thức của mình, ln phải đối phó với cái nghèo, cái đói thì ngườithầy trong truyện ngắn Thầy giáo dạy triết lại được nhìn nhận ở góc độ chunmơn. Thầy ln dạy những kiến thức lỗi thời, những điều mà bây giờ bọn trẻkhông quan tâm nữa, môn triết của thầy dường như đang đi ngược lại những điềumà bọn trẻ nghĩ ngợi “ra trường thì sao đây?”. Truyện ngắn vẽ ra trước mắtngười đọc chân dung một ông thầy thụ động, kém linh hoạt, cũng là một kẻ sốngbẩn thỉu, nhếch nhác, thiếu trách nhiệm ngay cả với chính bản thân ơng giáo dạy văn già trong truyện ngắn Ronan keating lại là mộttrong những mẫu nhân vật đại diện cho sự tụt hậu trầm trọng về kiến thức vănhóa, đời sống, trở thành đối tượng gây cười cho chính học trị của mình. Cảmột đời dạy học, ơng ln ra những đề bài “mờ mịt”, “bí hiểm”, để rồi khigiải thích những đề văn đó, cơ học trị của ơng đã đưa ra những câu nói triết lýngụy danh là của Ronan keating khơng ăn khớp gì với đề bài, song bài vănvẫn đạt điểm khá. Ơng giáo ln phân vân Ronan keating là ai? Là nhà triếthọc thế kỉ nào? Nhưng cuối cùng khi nghe sự giải thích của cơ học trị nhỏ đó 24là tên một ca sĩ hát sô – lô trong ban nhạc hải ngoại và tiếng cười đầy vui thúcủa nó, lúc đó ơng mới thực sự vỡ lẽ và tỉnh giáo viên dạy sinh học trong truyện ngắn Thằn lằn cũng không phảilà một trường hợp ngoại lệ. Bao nhiêu năm lăn lộn trên bục giảng lão mớichợt nhận ra rằng mình khơng bằng con thằn lằn – một lồi vật nhỏ bé họ bịsát. Gánh nặng gia đình như vịng xốy cuốn hút lão vào sự đau khổ và tuyệtvọng. Hằng ngày, lão sống trong cảnh bị vợ đay nghiến, mất tự do, mất ăn,mất ngủ cộng thêm vào đó là vốn kiến thức eo hẹp hằng ngày lên lớp khôngđược bù đắp thường xuyên, đã đẩy lão vào bi kịch gia đình. Lão muốn trốnchạy thực tại, tìm về những kỉ niệm thơ mộng ngày xưa, cuối cùng lão đã tìmđến cái chết. Thế nhưng cuộc đời đâu buông tha, cái chết hụt tiếp tục ném lãotrở về với thực tha hóa khơng dừng lại ở việc tự thỏa mãn về kiến thức của mình haysự tụt hậu về tri thức mà đó là sự biến chất hồn tồn. Đáng trong truyện ngắnXóm nhỏ cũng xuất thân từ một trường Đại học, song hắn mang trong mìnhbản chất thất đức, vơ độ. Hắn đối xử một cách hỗn láo với bà cô đã cưu mang,nuôi nấng hắn, “bữa nào ít thức ăn nó đạp cửa mạnh, quăng chậu, quăngbát”, bộ mặt hắn lúc nào cũng giống như một con thú “bộ ria nó vểnh lên, đơimắt nó dữ tợn, nhìn lâng láo trong nhà”. Hắn trả ơn bà cô bằng cách biến bàthành người phục vụ khơng hơn khơng kém. Đau lịng hơn, trong lịng hắnluôn nung nấu ý định chiếm đoạt ngôi nhà mà bà đang ở. Bà cô ốm, hắn thảnnhiên để bà chết cô độc trong bệnh viện. Thế nhưng khi hàng xóm lo xong machay cho người đàn bà xấu số, hắn lại diễn bộ mặt đau điểm của sự vơ văn hóa, thiếu đạo đức của người trí thức phải kểđến nhân vật giáo sư Mùi trong truyện ngắn Chó điên. Lê Minh Kh khơngngại phơi bày bản chất thực của con người này. Mang trong mình học vị giáosư, công tác ở viện nghiên cứu thế nhưng lão không bằng bà vợ làm công việc 25nội trợ, thậm chí khơng bằng một con chó. Lão luôn bị bố vợ coi khinh “bấtcứ ai là giáo sư đều được chỉ trừ thằng Mùi, thằng đó chăn lợn không đắt”[10, tr 63]. Sở dĩ lão bị khinh rẻ như vậy, bởi vì ngay cả trong cơng việcchun mơn hay quan hệ trong gia đình, lão đều tỏ ra là một kẻ vơ ý thức,thiếu văn hóa. Trong quan hệ với vợ, lão dùng phương thức tra tấn cả về thểxác lần tinh thần. Lão đánh vợ, lăng nhục vợ. Trong chun mơn, đầu óc lãorỗng tuếch, vợ gã “biết tỏng cái đầu lão chỉ có một đống bã đáng đổ cho lợnăn”. Ngồi ra lão cịn là một kẻ bất chính, cặp bồ với cơ thư kí cùng cơ tư cách là một giáo sư thì gã dạy cho đàn em những kinh nghiệm màlão để lại “Cứ vơ đại một đề tài rồi vào thư viện mà cóp”, cịn lão thì chẳngcần in sách ở nhà xuất bản, chỉ cần in ra vài chục cái bìa, rồi th hàng phơ tơđóng vào sách phơ tơ thế là thành ấn phẩm, … Xét về góc độ văn hóa, lãokhơng bằng một con chó hay nói đúng hơn đến con chó cũng cảm thấy ghêsợ, xấu hổ cho lão. Lão khạc nhổ, trung tiện, tiểu tiện bừa bãi. Trong con mắtmọi người thì con chó của giáo sư lịch sự hơn chủ của nó nhiều. Lê MinhKhuê đã đặt giáo sư Mùi trong sự đối sánh tương quan với vợ và con chóMích nhà lão, qua đó người đọc nhận diện được chân dung nhơ bẩn, ghê sợcủa vị giáo sư bày thực trạng này, một mặt Lê Minh Khuê trực diện lên án gaygắt những tri thức dởm đang làm suy đồi những giá trị đạo đức truyền thống,mặt khác đánh thức phần lương tri cịn sót lại trong sâu thẳm tâm hồn họ, kêugọi họ cùng chung tay góp sức vào việc ngăn chặn thực trạng tha hóa đang cónguy cơ “di căn” vào nhiều tế bào xã hội. Đồng thời, thông qua thực trạngđáng báo động của giáo dục Việt Nam, chị muốn rung lên một hồi chng báođộng để các cấp, chính quyền có chức năng có biện pháp ngăn chặn và xử lýkịp thời, phát triển nền giáo dục quốc gia một cách toàn diện và bền Chân dung người nghệ sĩ
truyện ngắn sau 1975